Members List
Notifications
Home
Register
sign up at KiloBooks.com
Search
goc phai
Hỗ trợ trực tuyến Hỗ Trợ Nạp Xu
Hỗ trợ trực tuyến Hỗ Trợ Tài Liệu
Hỗ trợ trực tuyến Hỗ Trợ Chung
Hỗ trợ trực tuyến Góp Ý
Vui  Lòng  Gõ  Từ  Khóa  Vào  Khung  Tìm  Kiếm  Bên  Dưới  Để  Tìm  Được  Tài  Liệu  Nhanh  Hơn
Search Documents
Upload a Document
[GIẢI PHÁP KIẾM TIỀN HIỆU QUẢ] CÙNG QUẢNG CÁO - CÙNG KIẾM TIỀN new

Ðề tài: TTHCM024 - Tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh

  1. #1
    Trùm Bựa
    Bài gởi
    4,674
    Tài liệu đã gửi
    2526
    Tài liệu đã bán
    7677
    Tài liệu đã mua
    119
    Mã số thành viên
    43
    Đề tài: TTHCM024 - Tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh
    Chuyên ngành: Tư Tưởng Hồ Chí Minh Mã số tài liệu: 5458 Lượt xem: 9013
    Thể loại: TIỂU LUẬN
    Link giới thiệu: 
    Giá: 150 xu
  2. chính sách bảo đảm Tài liệu này thành viên đăng và được KiloBooks.Com Đảm Bảo. Xem chi tiết
    Thông tin chi tiết  

    Đề tài: Tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh

    MỤC LỤC


    A. Mở đầu:
    B. Nội dung:
    I. Tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại
    1. Quá trình nhận thức của Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
    2. Nội dung tư tưởng của Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại
    2. 1. Đặt cách mạng giải phóng dân tộc Việt NamThư Viện Điện Tử Trực Tuyến Việt Nam trong sự gắn bó với cách mạng vô sản thế giới
    2. 2. Kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng
    2. 3 Dựa vào sức mình là chính, tranh thủ sự giúp đỡ của các nước xã hộiLuận Văn - Đề Án - Tiểu Luận Xã Hội chủ nghĩa, sự ủng hộ của nhân loại tiến bộ, đồng thời không quên nghĩa vụ quốc tế cao cả của mình.
    2. 4. Có quan hệ hữu nghị, hợp tác, sẵn sàng “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ”

    II. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong bối cảnh hiện nay
    1. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh
    2. Khơi dậy và phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, nâng cao ý chí tự lực, tự cường, giữ vững bản sắc dân tộc trong quá trình hội nhập quốc tế
    C. Kết luận:

    Trích từ: http://www.kilobooks.com
    Tải tài liệu tại: http://www.kilobooks.com/showthread.php?t=5458&referrerid=43
    Các bài viết tương tự

  3. KiloBooks © 2012
    Nhắn tin SMS ủng hộ KILOBOOKS.COM
      Nếu KILOBOOKS có ích đối với bạn, mời ủng hộ KILOBOOKS bằng cách soạn tin nhắn: DOWN LIXI gởi 8785 chi tiết»
  4. #2
    Tham gia ngày
    Mar 2009
    Bài gởi
    4,674
    Mã số thành viên
    43
    Tài liệu đã gửi
    2526
    Tài liệu đã bán
    7677
    Tài liệu đã mua
    119
    A. Mở đầu:
    Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tếLuận Văn - Đề Án - Tiểu Luận Kinh Tế quốc tế là xu hướng khách quan, lôi cuốn các nước, bao trùm hầu hết các lĩnh vực, vừa thúc đẩy hợp tác, vừa tăng cường sức ép cạnh tranh và tính tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế.
    Đối với nước ta, hội nhập kinh tế quốc tế là nhu cầu vừa bức xúc, vừa cơ bản lâu dài. Chủ động và tích cực tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, nước ta có cơ hội mở rộng thị trưởng, mở rộng các mối quan hệ hợp tác quốc tế, tranh thủ các nguồn lực bên ngoài để đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
    Hơn 75 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam do Chủ Tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, nhân dân ta đã tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng đầy gian khổ, hy sinh và đã giành được nhiều thắng lợi to lớn. Một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những thắng lợi đó là chúng ta đã biết kết hợp tài tình sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Đây cũng chính là một trong những bài học lớn mà Đảng ta đã rút ra qua thực tiễn đấu tranh cách mạng của mình.
    Ngày nay trong bối cảnh Việt Nam đang chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đòi hỏi chúng ta phải năm vững bài học trên đây, phải biết kết hợp đúng đắn và khéo léo sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, nhân tố nội lực và nhân tố ngoại lực để tạo ra tổng hợp lực nhằm thúc đẩy đất nước phát triển, hội nhập thành công và bên vững vào nền kinh tế quốc tế. Chính vì vậy, việc nghiên cứu về mối quan hệ giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại;phát huy và kết hợp hiệu quả giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại luôn có một ý nghĩa to lớn cả về lý luận và thực tiễn trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam hiện nay.
    Xuất phát từ nhận thức trên đây, em chọn vấn đề: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Sự vận dụng của Đảng ta trong giai doạn hiện nay”.Trích từ: http://www.kilobooks.com

  5. #3
    Tham gia ngày
    Dec 2011
    Bài gởi
    2
    Mã số thành viên
    461912
    Tài liệu đã mua
    14
    M ỤC L C





    Trang


    A. Mở đầu:
    B. Nội dung:
    I. Tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc

    với sức mạnh thời đại.
    1. Quá trình nhận thức của Hồ Chí Minh về kết hợp sức
    mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
    1.1 Hồ Chí Minh nhận thức về sức mạnh dân tộc.
    1.2. Hồ Chí Minh nhận thức về sức mạnh thời đại.

    2. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. 2.1. Đặt cách mạng Việt Nam trong sự gắn bó với cách mạng vô sản thế giới.
    2.2. Kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng. 2.3. Giữ vững độc lập tự chủ, dựa vào sức mình là chính, tranh thủ sự giúp đỡ của các nước XHCN, sự ủng hộ của nhân loại tiến bộ, đồng thời không quên nghĩa vụ quốc tế cao cả của mình. 2.4. Mở rộng tối đa quan hệ hữu nghị, hợp tác, sẵn sàng “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ”. II. Đảng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong bối cảnh hiện nay.
    1. Thực trạng:

    1.1.Thành tựu
    1.2. Hạn chế.
    2. Vận dụng
    C. Kết luận:









    LỜI MëĐẦU


    Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế là xu hướng khách quan, lôi cuốn các nước, bao trùm hầu hết các lĩnh vực, vừa thúc đẩy hợp tác, vừa tăng cường sức ép cạnh tranh và tính tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế.Đối với nước ta, hội nhập kinh tế quốc tế là nhu cầu vừa bức xúc, vừa cơ bản lâu dài. Chủ động và tích cực tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, nước ta có cơ hội mở rộng thị trưởng, mở rộng các mối quan hệ hợp tác quốc tế, tranh thủ các nguồn lực bên ngoài để đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
    Hơn 75 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam do Chủ Tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, nhân dân ta đã tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng đầy gian khổ, hy sinh và đã giành được nhiều thắng lợi to lớn. Một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những thắng lợi đó là chúng ta đã biết kết hợp tài tình sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Đây cũng chính là một trong những bài học lớn mà Đảng ta đã rút ra qua thực tiễn đấu tranh cách mạng.của.mình.
    Ngày nay trong bối cảnh Việt Nam đang chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đòi hỏi chúng ta phải năm vững bài học trên đây, phải biết kết hợp đúng đắn và khéo léo sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, nhân tố nội lực và nhân tố ngoại lực để tạo ra tổng hợp lực nhằm thúc đẩy đất nước phát triển, hội nhập thành công và bên vững vào nền kinh tế quốc tế. Chính vì vậy, việc nghiên cứu về mối quan hệ giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại;phát huy và kết hợp hiệu quả giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại luôn có một ý nghĩa to lớn cả về lý luận và thực tiễn trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam hiện nay.
    Xuất phát từ nhận thức trên đây, em chọn đề tài: “II. Đảng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong bối cảnh hiện nay.



    B :N ỘI DUNG II. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ KẾT HỢP SỨC MẠNH DÂN TỘC VỚI SỨC MẠNH THỜI ĐẠI.
    1. Quá trình nhận thức của Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
    1.1 Hồ Chí Minh nhận thức về sức mạnh dân tộc: Hồ Chí Minh là một nhà yêu nước vĩ đại, Người rời Tổ quốc mang theo nhận thức và niềm tin vào sức mạnh dân tộc: đó là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý thức về độc lập, chủ quyền quốc gia. Người đề cao sức mạnh của lòng yêu nước “dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước .” khơi dậy ý thức về độc lập, chủ quyền “trên đời có nghìn vạn điều cay đắng, cay đắng chi bằng mất tự do”, hoặc “Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường sơn, cũng quyết giành cho bằng được nền độc lập”, hoặc “chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước nhất định không chịu làm nô lệ”; Hồ Chí Minh cũng đề cao ý thức của khối đại đoàn kết để khắc phục địch hoạ, thiên tai trong lao độngLuận Văn - Đề Án - Tiểu Luận Lao Động sản xuất . Ba truyền thuyết: Thánh Gióng, Trăm trứng, Sơn tinh Thuỷ tinh, phản ánh ý thức về chủ quyền dân tộc, chống ngoại xâm, chống thiên tai. Đồng thời Người cũng lạc quan tin tưởng vào sức mạnh dân tộc; “Sự đầu độc có hệ thống của bọn thực dân không thể làm tê liệt sức sống, tư tưởng cách mạng của người Đông Dương Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sục sôi, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm khi thời cơ đến”. [IMG]file:///C:/DOCUME~1/TRANBA~1/LOCALS~1/Temp/msohtml1/01/clip_image002.jpg[/IMG]
    Sức mạnh dân tộc còn gắn với yếu tố địa lýLuận Văn - Đề Án - Tiểu Luận Địa Lý, chính trị. Bác nêu 3 yếu tố: thiên thời- địa lợi- nhân hoà, trong đó nhân hoà là yếu tố quan trọng và quyết định. “Nước ta ở vào sứ nóng, khí hậu tốt, rừng vàng, biển bạc, nhân dân ta dũng cảm và cần kiệm. Các nước anh em lại giúp đỡ nhiều. Thế là ta đã có 3 điều kiện: thiên thời, địa lợi, nhân hoà.”
    Sống trong môi trườngLuận Văn - Đề Án - Tiểu Luận Môi Trường hoạt động của giai cấp công nhân, Hồ Chí Minh đã chứng kiến cuộc sống khổ cực của nhân dân các nước thuộc địa, Người phát hiện ra mối tương đồng giữa các dân tộc bị áp bức: “Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột”. Và tình hữu ái vô sản là thật mà thôi, đó là cơ sở hình thành nhận thức: muốn cứu nước cần phải đoàn kết cùng dân tộc khác cùng chung cảnh ngộ. Sau khi tiếp xúc luận cương của Lênin, Người càng chú ý mối quan hệ mật thiết giữa cách mạng thuộc địa và cách mạng vô sản. Hồ Chí Minh kêu gọi hãy vì nền hoà bình thế giới, vì tự do và ấm no, những người bị bóc lột thuộc mọi chủng tộc cần đoàn kết lại và chống áp bức.
    Qua khảo sát thực tế, Hồ Chí Minh cho rằng: chủ nghĩa đế quốc là lực lượng phản động quốc tế, là kẻ thù chung của nhân dân lao động ở cả chính quốc và thuộc địa. Muốn thắng lợi, phải thực hiện liên minh chiến đấu giữa lao động thuộc địa với vô sản chính quốc.
    1.2. Hồ Chí Minh nhận thức về sức mạnh thời đại: hình thành từng bước từ cảm tính đến lý tính với mục tiêu là giải phóng dân tộc, phát triển đất nước trong dòng thác chung của thời đại. Thời đại, mà Bác Hồ chứng kiến, mở đầu bằng cách mạng tháng Mười Nga- quá độ từ Chủ Nghĩa Tư Bản lên CNXH, thời đại của phong trào giải phóng dân tộc, sự sụp đổ của Chủ Nghĩa Thực Dân, thời đại độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Bác cho rằng phải thực hiện khối liên minh chiến đấu giữa vô sản chính quốc với lao động thuộc địa nhằm một lúc tấn công chủ nghĩa đế quốc từ cả hai phía. Sức mạnh thời đại là sức mạnh của ba dòng thác cách mạng: cách mạng XHCN, cách mạng giải phóng dân tộc, phong trào đấu tranh cho hoà bình dân chủ. Phát huy sức mạnh thời đại là phải biết huy động các phong trào cách mạng trên thế giới phục vụ cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Trong luận cương của Lênin yêu cầu phải làm cho vô sản và quần chúng lao ở tất cả các nước gần gũi nhau. Sức mạnh thời đại mà Hồ Chí Minh nhận thức là sức mạnh của tiến bộ khoa học công nghệLuận Văn - Đề Án - Tiểu Luận Công Nghệ, làm thay đổi có tính cách mạng về các lĩnh vực như : năng lượng, vật liệu, công nghệ sinh họcLuận Văn - Đề Án - Tiểu Luận Sinh Học, giao thôngLuận Văn - Đề Án - Tiểu Luận Giao Thông vận tải , loài người đã tiến một bước dài trong việc chinh phục thiên nhiên. “50 năm qua thế giới đã có những chuyển biến lớn .đặc biệt là sức mạnh nguyên tử, nhiều hơn thế kỷ trước cộng lại”. Sự xuất hiện của hệ thống XHCN đã trở thành một nhân tố làm nên sức mạnh thời đại. Từ tuyên truyền đến tổ chức, Người tham gia sáng lập Hội liên hiệp thuộc địa Pháp, xuất bản báo Người cùng khổ => Sức mạnh thời đại mà Hồ Chí Minh nhìn nhận là sức mạnh cả về chính trị-xã hội, cả sức mạnh về khoa học - công nghệ. Hồ Chí Minh nhìn nhận sức mạnh thời đại trong trạng thái động và biến đổi tương tác giữa các lực lượng ở trong nước và quốc tế. Từ đó, Người đề ra khẩu hiệu hành động thích hợp nhằm thay đổi tình huống. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là kết hợp giữa chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Hồ Chí Minh tìm thấy sức mạnh cho dân tộc đó là, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Như vậy ,Tư Tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnhdân tộc với sức mạnh thời đại là một hệ thống quan điểm khoa học thấm đượm tinh thần độc lập tự chủ và tinh thần quốc tế trong sáng không phải chỉ có giá trị chỉ đạo đối với sự nghiệp Cách mạng Việt Nam hiện nay mà còn có giá trị định hướng lâu dài cho cả sự nghiệp đấu tranh của nhân dân tabvì mục tiêu cao cả của thời đại , hoà bình, độc lập dân tộc dân chủ và tiến bộ xã hội. Ngoài ra tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là một bộ phận quan trọng trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh 2. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. 2.1. Đặt cách mạng Việt Nam trong sự gắn bó với cách mạng vô sản thế giới: Theo Lênin phải “nhận thức rõ thời đại mà ta đang sống” “giai cấp nào đang là giai cấp trung tâm của thời đại” “xây dựngLuận Văn - Đề Án - Tiểu Luận Xây Dựng nội dung căn bản của thời đại, phương hướng phát triển chính của thời đại, những đặc điểm chủ yếu của bối cảnh lịch sửLuận Văn - Đề Án - Tiểu Luận Lịch Sử thời đại ấy”. Đọc sơ thảo luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc thuộc địa, Hồ Chí Minh rút ra kết luận: Muốn cứu nước, giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường CMVS. Đặt cách mạng VN vào quỹ đạo cách mạng vô sản, Hồ ChíMinh đã khắc phục được sự khủng hoảng về đường lối cứu nước của nước ta.
    +) Về thực tiễn, Người luôn luôn quan tâm hình thành các tổ chức để thực hiện sự kết hợp này: 1921 người sáng lập hội liên hiệp các dân tộc thuộc địa ở Pari, báo Người cùng khổ, hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức Á Đông (1925).
    Trên các diễn đàn quốc tế, Người luôn khẳng định vai trò của CM thuộc địa và sự cần thiết liên minh chiến đấu giữa CM giải phóng dân tộc với CMVS chính quốc, CM giải phóng dân tộc giữa các nước thuộc địa với nhau.
    - Thời đại mà Hồ Chí Minh sống và hoạt động là thời đại có những biến đổi cực kỳ to lớn trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó nổi bật lên hai sự kiệnquan trọng nhất làm thay đổ nội dung của thời đại: Một là, chủ nghĩa tư bản từ tự do cạnh tranh bước sang độc quyền đã phát triển thành hệ thống và làm xuất hiện hệ thống thuộc địa. Hai là, thắng lợi của Cách mạng tháng mười Nga đã mở ra kỷ nguyên mới, kỷ nguyên quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Thời đại mở ra mối quan hệ quốc tếLuận Văn - Đề Án - Tiểu Luận Quan Hệ Quốc Tế giữa các dân tộc làm cho vận mệnh của mỗi dân tộc không tách rời vận mệnh chung của thế giới. “Thời đại mà một nhóm nước lớn do bọn tư bản tài chínhLuận Văn - Đề Án - Tiểu Luận Tài Chính cầm đầu thống trị các nước phụ thuộc và nửa phụ thuộc, bởi vậy công cuộc giải phóng các nước và các dân tộc bị áp bức là bộ phận khăng khít của cách mạng vô sản”. Tất yếu khách quan “phải liên minh chiến đấu chặt chẽ giữa các nước thuộc địa với giai cấp vô sản ở các nước đế quốc để chiến thắng kẻ thù chung”. - Trong thời đại mới, Hồ Chí Minh đã nhận thức sâu sắc rằng "công cuộc giải phóng các nước và các dân tộc bị áp bức là một bộ phận khăng khít của cách mạng vô sản", rằng "cần thiết phải có liênminh chiến đấu chặt chẽ giữa các dân tộc thuộc địa với giai cấp vô sản của các nước đế quốc để chống kẻ thù chung". - Sau khi nắm được đặc điểm và những yêu cầu đặt ra trong thời đại mới, Hồ Chí Minh đã xác định cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới. Người viết: "Cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận trong cách mệnh thế giới. Ai làm cách mệnh trong thế giới đều là đồng chí của dân An -Nam"; "Cách mệnh trước hết phải có Đảng để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc tộc bị áp bức và vô sản giai cấp ở khắp mọi nơi". Tại Đại hội Tua năm 1920, Hồ Chí Minh đã phát biểu: “Hôm nay tôi đến đây góp phần cùng các đồng chí vào cách mạng thế giới”. Bác chú ý mối quan hệ giữa cách mạng phương Đông và phương Tây. Người chỉ ra sự cách biệt của các dân tộc phương Đông, do “họ thiếu sự tin cậy lẫn nhau, thiếu sự phối hợp hành động và cả sự cổ vũ lẫn nhau”. Hồ Chí Minh kiến nghị ban phương Đông của Quốc tế Cộng sản “làm cho các dân tộc hiểu biết nhau hơn và đoàn kết lại để đặt cơ sở cho một liên minh phương Đông tương lai, khối liên minh này chắc chắn sẽ là một trong những cái cánh của cách mạng vô sản”. Tại đại hội V Quốc tế cộng sản, Hồ Chí Minh đã phê phán gay gắt giai cấp công nhân và đảng cộng sản ở chính quốc thờ ơ với cách mạng thuộc địa. “Tôi rất buồn vì điều này, giai cấp tư sản đã tiến hơn một bước so với giai cấp vô sản. Có thể nói Đảng Cộng sản Pháp làm rất ít cho thuộc địa”. Do đánh giá thấp vị trí của cách mạng thuộc địa và Đảng cộng sản chưa làm gì để giáo dụcLuận Văn - Đề Án - Tiểu Luận Giáo Dục giai cấp công nhân nước mình tinh thần quốc tế chủ nghĩa chân chính, Hồ Chí Minh nói “Tôi sẽ thức tỉnh các đồng chí ” Hồ Chí Minh cho rằng nền tảng sức mạnh là ở nhân dân thuộc địa, chủ nghĩa đế quốc tập trung nọc độc ở thuộc địa, nhân dân thuộc địa là người thủ tiêu chủ nghĩa thực dân. Hồ Chí Minh đã phát triển và vượt xa so với Mác. Nhờ nắm bắt đặc điểm và xu thế của thời đại Nguyễn Ái Quốc đã xác định đường lối chiến lược và phương pháp cách mạng đúng đắn cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc Việt Nam theo con đường vô sản. .- Sau khi nắm được đặc điểm và những yêu cầu đặt ra trong thời đại mới, Hồ Chí Minh đã xác định cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới. Người viết: "Cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận trong cách mệnh thế giới. Ai làm cách mệnh trong thế giới đều là đồng chí của dân An Nam"; "Cách mệnh trước hết phải có Đảng để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc tộc bị áp bức và vô sản giai cấp ở khắp mọi nơi". Và Người đã làm tất cả để gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới.

    2.2. Kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Để kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, các Đảng Cộng sản kiên trì đấu tranh chống lại mọi khuynh hướng sai lầm làm suy yếu khối đại đoàn kết để thống nhất các lực lượng cách mạng thế giới. Các đảng cộng sản phải giáo dục chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế vô sản cho nhân dân lao động nước mình, làm cho tinh thần yêu nước là một bộ phận của tinh thần quốc tế. Nguyễn Ái Quốc kêu gọi “vì nền hoà bình thế giới, vì tự do và ấm no, những người bị bóc lột thuộc mọi chủng tộc cần đoàn kết lại và chống bọn áp bức”. Sau cách mạng giải phóng dân tộc giành độc lập, các dân tộc thuộc địa tất yếu đi theo cách mạng xã hội chủ nghĩa. Hồ Chí Minh viết: “trong thời đại ngày nay, cách mạng giải phóng dân tộc là bộ phận khăng khít của cách mạng vô sản trong phạm vi toàn thế giới; cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn.” Phải biến chủ nghĩa yêu nước truyền thống thành chủ nghĩa nghĩa yêu nước xã hội chủ nghĩa, yêu Tổ quốc gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, nhờ đó chủ nghĩa yêu nước có thêm sức mạnh và phát triển thành chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong thời đại mới. Hệ thống xã hội chủ nghĩa ngày càng lớn mạnh, lực lượng hoà bình hơn hẳn lực lượng chiến tranh thì chủ nghĩa xã hội là nhân tố quyết định đời sống xã hội loài người. Các Đảng Cộng sản dù lớn hay nhỏ đều bình đẳng và độc lập. => Vì thế HCM nhấn mạnh CN yêu nước chân chính phải gắn liền với CNQT vô sản trong sáng. Tinh thần vị quốc chân chính đối lập với tinh thần vị quốc của bọn phản động cầm đầu các nước tư bản, đế quốc.
    Trong kháng chiến chống, Pháp, Mỹ, người luôn giáo dục cho nhân dân ta phân biệt rõ người Pháp-Mỹ chân chính với những người Pháp-Mỹ thực dân, đế quốc; những người lao động yêu hòa bình công lý ở các nước TB, ĐQ, với những người Pháp-Mỹ hiếu chiến, xâm lược.
    Cách mạng giải phóng dân tộc các thuộc địa phải biết đoàn kết với những người lao động chân chính ở các nước đế quốc. Người đấu tranh không mệt mỏi chống những biểu hiệu của tư tưởng "sô vanh", "vị kỷ" nhằm củng cố tăng cường tính đoàn kết hữu nghị giữa các dân tộc trên thế giới.
    Đặt cách mạng Việt Nam vào quỹ đạo Cách
    Mng Sn thế giới là sự kết hợp tinh hoa dân tộc với trí tuệ thời đại, làm cho chủ nghĩa yêu nước truyền thống phát triển thành chủ nghĩa yêu nước XHCN, lòng yêu nước với yêu CNXH.
    - Để có thể kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, Hồ Chí Minh yêu cầu các Đảng Cộng sản phải giáo dục chủ nghĩa yêu nước chân chính kết hợp với chủ nghĩa quốc tế trong sáng cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động nước mình. Và Người luôn nhắc nhở nhân dân ta rằng: "Tinh thần yêu nước chân chính khác hẳn với tinh thần "vị quốc" của bọn đế quốc phản động. Nó là một bộ phận của tinh thần quốc tế".
    - Để kết hợp chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng trong cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã triệt để phát huy sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc chân chính, đồng thời Người đã nỗ lực không mệt mỏi để củng cố và tăng cường tình đoàn kết, hữu nghị giữa Việt Nam với các dân tộc khác đang đấu tranh cho mục tiêu chung là hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
    Hồ Chí Minh là người có đóng góp to lớn vào lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về kết hợp chặt chẽ giữa chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Luận điểm “con đỉa 2 vòi”, “liên minh các dân tộc phương Đông là một trong những cái cánh của cách mạng vô sản”, khẳng định chủ nghĩa xã hội có thể áp dụng ở phương Đông chính là sự phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin của Hồ Chí Minh. Đoàn kết quốc tế là nhân tố đảm bảo cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam


    2.3. Giữ vững độc lập tự chủ, dựa vào sức mình là chính, tranh thủ sự giúp đỡ của các nước XHCN, sự ủng hộ của nhân loại tiến bộ, đồng thời không quên nghĩa vụ quốc tế cao cả của mình. Hồ Chí Minh nêu cao tinh thần “tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính”, “muốn người ta giúp cho, thì trước hết phải tự giúp mình đã”, “một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được hưởng độc lập”. Với tư tưởng này khi Người gửi lời kêu gọi tới anh em ở thuộc địa có viết; “Anh em phải làm thế nào để được giải phóng? Vận dụng công thức của Mác, chúng tôi xin nói với anh em rằng, công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em”. Người còn nói “đem sức ta mà giải phóng cho ta, họ còn giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong sự nghiệp giải phóng hoàn toàn”. Tự giải phóng là tư tưởng, quan điểm lớn của Hồ Chí Minh. Nhờ vậy, Người đã có quan điểm “cách mạng thuộc địa không phụ thuộc vào cách mạng vô sản chính quốc, mà còn có thể giúp đỡ người anh em ở phương Tây ”. Muốn tranh thủ sức mạnh thời đại cần phải có một đường lối độc lập tự chủ đúng đắn. Kết hợp chặt chẽ mục tiêu đấu tranh cho độc lập dân tộc mình với bốn mục tiêu của thời đại: hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, chủ nghĩa xã hội. Kết hợp chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế, tranh thủ sự ủng hộ của nhân loại tiến bộ, nhân dân ta không quên nghĩa vụ quốc tế cao cả. Bác thường nói: “phải coi cuộc đấu tranh của bạn như cuộc đấu tranh của ta”. Tranh thủ sự ủng hộ , giúp đỡ của các lực lượng cách mạng tiến bộ trên thế giới nhưng không ỷ lại trông chờ , mà phải nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính , phải đem sức ta để tự giải phóng cho ta.
    Ta không nhận sự giúp đỡ một chiều của bạn bè quốc tế, mà phải bằng thành quả của cách mạng nước ta để góp phần tăng cường sức mạnh cách mạng thế giới , theo tinh thần giúp bạn là tự giúp mình .
    +) Trong mối quan hệ giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại , Hồ Chí Minh xác định sức mạnh dân tộc giữ vai trò quyết định , còn sức mạnh thời đại có vai trò quan trọng, sức mạnh thời đại chỉ phát huy tác dụng thông qua sức mạnh dân tộc.
    => Khẳng định sức mạnh dân tộc giữ vai trò quyết định nhưng Hồ Chí Minh không hề xem nhẹ việc tranh thủ sức mạnh thời đại, đặc biệt là tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới.
    Để tranh thủ sự ủng hộ , giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, sự đồng tình , ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới , Người yêu cầu Đảng ta phải có đường lối độc lập , tự chủ đúng đắn . Trong đường lối đó , phải kết hợp chặt chẽ mục tiêu đấu tranh cho độc lập , tự do của dân tộc mình với các mục tiêu cơ bản của loài người tiến bộ là hoà bình , độc lập dân tộc , dân chủ và chủ nghĩa xã hội . Bên cạnh đó , Người cũng yêu cầu Đảng ta phải động viên nhân dân ta tích cực thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả của mình.

    .
    2.4. Mở rộng tối đa quan hệ hữu nghị, hợp tác, sẵn sàng “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ”.

    Trong quá trình tìm đường cứu nước Bác là người đầu tiên đặt nền móng cho tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước trên thế giới. Bác nói: “Chính sáchKho Sách Trực Tuyến ngoại giao của Chính phủ Việt Nam thì chỉ có một điều tức là thân thiện với tất cả các nước dân chủ trên thế giới để giữ gìn hoà bình”, “thái độ của Việt Nam đối với những nước Á châu là thái độ anh em, đối với ngũ cường là thái độ bạn bè”. Bác sớm có tư tưởng đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ đối ngoại “tiến bộ chung phụ thuộc vào việc phát triển chủ nghĩa quốc tế và văn minh chỉ có lợi khi các quan hệ quốc tế được mở rộng và tăng cường”. - Phương châm đối ngoại mà Hồ Chí Minh đề ra cho Việt Nam sau khi nước ta giành được độc lập là "sẵn sàng làm bạn với mọi nước dân chủ không gây thù oán với một ai" ; " Chính sách ngoại giao của Chính phủ thì chỉ có một điều tức là thân thiện với tất cả các nước dân chủ trên thế giới để giữ gìn hoà bình".
    - Trong quan hệ với tất cả các nước , Hồ Chí Minh đã giành ưu tiên cho quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa anh em và các nước láng giềng gần gũi với Việt Nam.
    - Hồ Chí Minh là người đã đặt cơ sở đầu tiên cho tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân nhiều nước trên thế giớ i. Sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau giữa Việt Nam và các nước đã được Người tạo dựng ngay từ những năm tháng Người bôn ba ở nước ngoài . Từ khi nước ta giành được độc lập , Những hoạt động ngoại giao không mệt mỏi của Người đã nâng cao địa vị của Việt Nam trên trường quốc tế, tăng cườngquan hệ hữu nghị với các nước , các dân tộc.
    +)Đối với Pháp: Hồ Chí Minh nêu “Việt Nam sẵn sàng cộng tác thân thiện với nhân dân Pháp . Những người Pháp , tư bản hay công nhân, thương gia hay trí thức, nếu họ muốn thật thà cộng tác với Việt Nam thì sẽ được nhân dân Việt Nam hoan nghênh họ như những anh em bầu bạn”.

    +)Hồ Chí Minh dành ưu tiên cho quan hệ với các nước láng giềng châu Á. Láng giềng gần (Trung quốc, Lào, Campuchia), láng giềng xa và các nước Đông Nam Á. “Trong chính sách đối ngoại của mình, nhân dân Việt Nam sẽ tuân thủ những nguyên tắc sau: (1) Đối với Lào và Miên, Việt Nam tôn trọng nền độc lập của hai nước đó và bày tỏ lòng mong muốn hợp tác trên cơ sở bình đẳng tuyệt đối giữa các nước có chủ quyền. (2) Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trên mọi lĩnh vực: - Việt nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tưLuận Văn - Đề Án - Tiểu Luận Đầu Tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuậtLuận Văn - Đề Án - Tiểu Luận Kỹ Thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình. - Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế. - Nước Việt Nam chấp nhận sự tham gia của mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc. - Nước Việt Nam sẵn sàng ký kết với các lực lượng hải quân, lục quân trong khuôn khổ của Liên hợp quốc những hiệp định an ninh đặc biệt và những hiệp ước liên quan đến việc sử dụng một vài căn cứ hải quân và không quân”. Với trí tuệ thiên tài, với tinh thần quốc tế trong sáng, với đức độ khiêm nhường và thái độ thiện chí, Hồ Chí Minh vượt qua mọi trở ngại, từ trong mối quan hệ chồng chéo, phức tạp của thời đại đề ra đường lối cách mạng đúng đắn,phương pháp ứng xử sáng tạo phù hợp với từng giai đoạn của cách mạng phát huy tối đa sức mạnh thời đại và sức mạnh dân tộc đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi trọn vẹn. .
    II. Đảng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong bối cảnh hiện nay.
    1. Thực trạng:

    1.1 Thành tựu: Từ khi Đảng ra đời (1930), coi cách mạng Việt Nam là 1 bộ phận của cách mạng vô sản thế giới, sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại từng bước kết hợp 1 cách đúng đắn. Cách Mạng Tháng 8 thành công là sự thể hiện của việc kết hợp sức mạnh to lớn của dân tộc Việt Nam với sức mạnh vĩ đại của thời đại. +) Giai đoạn (1945-1954) với chủ trương dựa vào sức mình là chính , đồng thời được sự giúp đỡ của Trung Quốc , Liên Xô và sự đồng tình của nhân dân thế giới kể cả Đảng Cộng Sản và nhân dân lao động Pháp , từng bước đi tới thắng lợi, nhất là ở chiến dịch lịch sủ Điện Biên Phủ.
    +) Giai đoạn (1954-1975) Đảng ta đã phát huy cao độ sức mạnh dân tộc, tranh thủ tối đa sức mạnh thời đại, bao gồm sức mạnh của hệ thống Xã hội chủ nghĩa , phong trào giải phòng dân tộc , phong trào hoà bình dân chủ, sức mạnh của Liên Xô, Trung Quốc, khối đại đoàn kết 3 nước Đông Dương, đánh bại đế quốc Mỹ , thống nhất Tổ quốc.
    +) Từ năm 1975 đến nay, nhất là từ 1986, Đảng đã đề ra đường lối đổi mới, tôn trọng và hành động theo quy luậtLuận Văn - Đề Án - Tiểu Luận Luật Học khách quan, từ bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp đã phát huy được tiềm năng của đất nước. Đảng và nhà nước đã đưa đất nước vượt qua khủng hoảng kinh tế-xã hội, chuyển mạnh sang thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

    Vận dụng và phát triển sáng tạo bài học đó trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới của Đảng hơn 25 năm qua, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng như: +) Lĩnh vực ngoại giao chúng ta đã thu được nhiều thành tựu mới hết sức quan trọng gắn liền với xây dựng phát triển kinh tế - xã hội và củng cố Quốc phòng An ninh. Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với 179 quốc gia, quan hệ kinh tế, thương mạiLuận Văn - Đề Án - Tiểu Luận Thương Mại, đầu tư với 224 nước và vùng lãnh thổ. Việt Nam đã chấm dứt hoàn toàn hội chứng bao vây cấm vận của nước ngoài, trở thành là bạn, là đối tác tin cậy của các quốc gia, các tổ chức quốc tế trên toàn thế giới. Vị thế Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng nâng cao. +) Việt Nam trở thành điểm đến thân thiện hấp dẫn với bè bạn bốn phương. Đặc biệt là cuộc Hội thảo quốc tế về phát triển Hà Nội với 200 đại biểu nước ngoài tham dự; Hội nghị về quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+) với 18 Bộ trưởng Bộ Quốc phòng của 18 quốc gia trong đó có cả Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Nga, Mỹ tham dự đã cùng ra tuyên bố Hà Nội" cam kết hợp tác bảo vệ hoà bình, giữ vững an ninh trong khu vực với tinh thần hiểu biết tin cậy lẫn nhau. +)Trên mặt trận ngoại giao, hiệu quả về lĩnh vực kinh tế đối ngoại đã góp phần mở rộng xuất khẩu, thu hút đầu tư, tài trợ quốc tế (FDI, ODA) và khoa học công nghệ Từ năm 1991 đến nay, kim ngạch thương mại nước ta tăng từ 5 tỷ USD lên hơn 100 tỷ USD năm 2009, gấp 20 lần
    +) Kinh tế tăng trưởng nhanh
    +) Chính trị - xã hội ổn định
    +) Quốc phòng - an ninh : được giữ vững

    +)Thế và lực của đất nước đã vững mạnh thêm nhiều; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng lên, tạo tiền đề quan trọng để đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

    => Những thành tựu đó chứng minh rằng, để tạo nên sức mạnh to lớn, giành thắng lợi trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và đổi mới xây dựng đất nước, chúng ta phải biết khai thác và phát huy cao nhất sức mạnh của dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế, trên cơ sở kiên định ý chí độc lập, tự chủ, phát huy sức mạnh nội lực, dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ ngoại lực, khai thác tối đa sức mạnh của thời đại. 1.2. Hạn chế:
    +) Thế của ta chưa thật vững chắc và lực của ta nói chung còn yếu . +) Nước ta vẫn là một nước đang phát triển, + )Kinh tế phát triển chưa bền vững, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh thấp +) Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá còn chậm; các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc; chế độ phân phối còn nhiều bất hợp lý. +) Những hạn chế, yếu kém trong các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, khoa học công nghệ, văn hoá, xã hội, bảo vệ môi trường chậm được khắc phục; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tội phạm, tệ nạn xã hội, suy thoái đạo đức, lối sống . chưa được ngăn chặn, đẩy lùi. +) Thể chế kinh tế, chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng vẫn là những điểm yếu cản trở sự phát triển. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết dân tộc chưa được phát huy đầy đủ. +) Một số mặt công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân chuyển biến chậm. +) Còn tiềm ẩn những yếu tố gây mất ổn định chính trị - xã hội +) Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí còn nghiêm trọng. +) Những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" có diễn biến phức tạp 2. Vận dụng: Tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là nền tảng chính trị trong đường lối đổi mới của Đảng ta. Thấm nhuần Tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện của Đảng trong những năm đổi mới đều khẳng định sự cần thiết phải vận dụng sáng tạo tư tưởng kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại do Người nêu lên. Nghị quyết Đại hội VII của Đảng ( 1991 )khẳng định ; Trong điều kiện mới càng phải coi trọng vận dụng bài học kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế, yếu tố truyền thống với yếu tố hiện đại để phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa bi:
    +) Trong những năm đổi mới, quan điểm “ Làm bạn với các nước dân chủ và không gây thù oán với một ai” của Hồ Chí Minh được Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm và vận dụng sáng tạo. Văn kiện Đại hội IX của Đảng đã khẳng định : Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển
    kỉ
    => Từ
    thùc tr¹ng trªn ®©y đòi hỏi việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thêi bèi c¶nh hiÖn nay cña §¶ng lµ hÕt søc quan träng ®ßi hái phải có chiến lược, sách lược, hình thức và phương pháp xử lý đúng đắn, sáng tạo. Trước hết và quan trọng nhất là: kiên định ý chí độc lập, tự chủ, khơi dậy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, phát huy cao độ nội lực; đồng thời, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, tranh thủ và sử dụng có hiệu quả nguồn lực bên ngoài cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Xuất phát từ bối cảnh quốc tế, khu vực và trong nước, kế thừa và phát triển những kinh nghiệm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong quá khứ, Đảng ta đã rút ra bài học và khẳng định: phải “phát huy dân chủ, khơi dậy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển đất nước”2. Đồng thời, Đảng ta cũng xác định rõ mối quan hệ giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, giữa yếu tố nội lực và ngoại lực trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; trong đó, coi “phát huy nội lực và sức mạnh dân tộc là yếu tố quyết định, đồng thời tranh thủ ngoại lực và sức mạnh thời đại là yếu tố quan trọng”3. Đây là những quan điểm cơ bản chỉ đạo xuyên suốt quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN thời kỳ mới. Vì vậy, những quan điểm này phải được thường xuyên tuyên tuyền, giáo dục, quán triệt sâu rộng trong hệ thống chính trị và quần chúng nhân dân. Qua đó, làm cho các cấp, các ngành, địa phương, đơn vị và toàn dân nhận thức sâu sắc rằng, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là tất yếu khách quan; trong đó và trước hết phải giữ vững độc lập, tự chủ, nêu cao ý chí tự lực, tự cường, phát huy cao nhất các yếu tố nội lực, dựa vào nguồn lực trong nước là chính, bao gồm nguồn lực con người, đất đai, tài nguyên, trí tuệ, truyền thống (lịch sử, văn hoá) của dân tộc. Nếu thực hiện không tốt vấn đề này, thì nước ta không thể đứng vững, đi lên một cách lâu bền và cũng không thể hội nhập quốc tế một cách bình đẳng, sâu rộng và có hiệu quả. Mặt khác, chúng ta phải chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, tranh thủ sự hợp tác, liên kết với các nước để khai thác nguồn vốn đầu tư, khoa học, kỹ thuật, công nghệ và kinh nghiệm quản lý, điều hành đất nước cả ở tầm vĩ mô và vi mô. Trong hội nhập quốc tế, phải luôn chủ động thích ứng với những thay đổi của tình hình, bảo đảm hiệu quả và lợi ích quốc gia, dân tộc. Đó chính là bài học xây dựng, sử dụng sức mạnh tổng hợp, làm cho các yếu tố thời đại, quốc tế chuyển hoá và kết hợp với nội lực tạo ra thế và lực mới, giúp chúng ta vượt qua khó khăn, thách thức, tận dụng tốt thời cơ để đổi mới và phát triển bền vững. Hai lµ :Trên cơ sở nâng cao nhận thức, nắm vững quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng, cần vận dụng và xử lý một cách linh hoạt, sáng tạo việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ Quốc Phòng - An Ninh, bảo vệ Tổ quốc Xã Hội Ch ủ Ngh ĩa. Quốc Phòng - An Ninh vững mạnh, giữ vững ổn định chính trị của đất nước là một yếu tố cơ bản quyết định việc tiếp thu có hiệu quả nguồn ngoại lực và sức mạnh quốc tế. Trong những năm chiến tranh, chúng ta đã có nhiều kinh nghiệm quý về tận dụng và phát huy những thành quả hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quốc phòng, nhất là đào tạo cán bộ, tiếp thu những thành tựu tiên tiến của khoa học nghệ thuật quân sự, khoa học kỹ thuật quân sự ., để xây dựng quân đội, tăng cường sức mạnh cho cuộc kháng chiến. Ngày nay, trong điều kiện và hoàn cảnh mới, hoạt động hợp tác quốc phòng đã có những phát triển khác trước rất nhiều, từ đối tác, nội dung đến hình thức thể hiện; nhiều vấn đề mới, phức tạp nảy sinh, nhất là vấn đề an ninh phi truyền thống (khủng bố, cướp biển, buôn lậu, tội phạm ma tuý và các thảm họa thiên nhiên .) vượt ra ngoài khả năng quốc gia, đòi hỏi phải có sự hợp tác giải quyết của các nước trong khu vực và cộng đồng quốc tế. Bởi vậy, cần nhận thức đúng về hợp tác quốc phòng, phát huy sức mạnh thời đại để xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng trong điều kiện mới. Trong hoạt động hợp tác quốc phòng, tuy có đặc thù và nhiệm vụ riêng, nhưng đều phải quán triệt và phục vụ mục tiêu chung của cách mạng; đó là, xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa. Hợp tác quốc phòng muốn đạt hiệu quả cao phải phối hợp chặt chẽ với các lĩnh vực hợp tác và đấu tranh khác, nhất là về kinh tế, chính trị, khoa học-công nghệ, văn hoá, nhằm đạt được yêu cầu là hợp tác trên các lĩnh vực đều phải tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác quốc phòng và xây dựng sức mạnh quốc phòng; ngược lại, kết quả hợp tác quốc phòng phải góp phần thúc đẩy các quan hệ hợp tác về kinh tế, khoa học-công nghệ, đầu tư, thương mại phát triển. Ba lµ: Trong mối quan hệ sử dụng sức mạnh nội lực và tranh thủ tối đa ngoại lực để xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, phải nắm vững tư tưởng chỉ đạo: tận lực khai thác mọi tiềm năng của đất nước, kinh nghiệm và truyền thống của dân tộc; giữ vững độc lập, tự chủ, phát huy ý chí tự lực, tự cường, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân là lực lượng nòng cốt. Đồng thời, tranh thủ tối đa ngoại lực, sức mạnh của thời đại, trên cơ sở tăng cường và mở rộng quan hệ hợp tác quốc phòng giữa nước ta với các nước đối tác trên nhiều mặt: hợp tác giữ vững an ninh khu vực và bảo vệ hoà bình thế giới; hợp tác nghiên cứu, phát triển khoa học quân sự, phát triển trang bị vũ khí, đào tạo, huấn luyện cán bộ, nhân viên kỹ thuật, trao đổi công nghệ quân sự hiện đại; nghiên cứu mở rộng hợp tác ứng dụng những thành tựu mới của khoa học-công nghệ, nhất là công nghệ thông tin, tự động hoá vào các lĩnh vực hoạt động quốc phòng; nâng cao quy mô, trình độ hiện đại hoá tổ chức, chỉ huy, bảo quản, sửa chữa, cải tiến thiết kế, chế tạo vũ khí, trang bị kỹ thuật . Đó là những nội dung vừa có tính cấp thiết trước mắt, vừa cơ bản lâu dài, nhằm tăng cường sức mạnh quốc phòng, sức mạnh của quân đội để bảo vệ đất nước tốt hơn, có khả năng răn đe, ngăn ngừa và đẩy lùi các nguy cơ đe dọa đến an ninh quốc gia. Bèn lµ: Về hình thức hợp tác quốc phòng, cần tăng cường mở rộng và nâng tầm các quan hệ hợp tác song phương, đa phương với các nước đối tác, đặc biệt là với các nước láng giềng, các nước bạn bè truyền thống, các nước trong khối ASEAN và các nước có tiềm lực quốc phòng mạnh, cũng như tham gia các diễn đàn an ninh khu vực và quốc tế. Trong hoạt động, chú trọng giữ vững quan điểm, đường lối, nguyên tắc chiến lược, nhưng cần linh hoạt, sáng tạo, mềm dẻo trong sách lược; phát huy những thế mạnh của đất nước, của quân đội; tranh thủ những điểm tương đồng, những lợi ích chung, vừa hợp tác vừa đấu tranh trên cả bình diện chiến lược cũng như cấp hành động, tạo sự hiểu biết, tin cậy lẫn nhau, làm cho các hoạt động hợp tác đạt hiệu quả cao; góp phần tạo ra môi trường hoà bình, ổn định và điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Xã Hội Chủ Nghĩa. N¨m lµ: Đảng ta ®· ®ẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp; ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa; phát huy cao độ nội lực đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hoá, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng-anninh. S¸u lµ: CÇn phải giáo dục cho nhân dân có được niềm tin về lý tưởng XHCN trong điều kiện thế giới có nhiều biến đổi. Cần phải xử lý nghiêm minh, công bằng đối với những hành vi vi phạm pháp luật làm suy thoái tư tưởng, băng hoại đạo đức xã hội. Hội nhập quốc tế mà không được chệch hướng XHCN, bảo đảm mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào cách mạng thế giới.

    B¶y lµ: Không ngừng bảo vệ và pháy huy bản sắc văn hóaLuận Văn - Đề Án - Tiểu Luận Văn Hóa truyền thống của dân tộc, làm cho bản sắc văn hoá được giữ vững và phát triển. Giữ vững tinh thần độc lập tự chủ trong tiếp thu sức mạnh bên ngoài, kết hợp sức mạnh trong nước. Việc giáo dục tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc chính đáng, ý thức bảo vệ văn hoá dân tộc, tiếp thu có chọn lọc văn hoá nước ngoài là những yêu cầu cấp thiết được đặt ra đối với việc “mở cửa”. Công tác đối ngoại được xác định có vai trò quan trọng đối với việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnhcủathờiđại.
    Thực tiễn công cuộc đổi mới vì mục tiêu “ dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” ở nước ta trong suốt thời gian qua đã chứng minh rằng : Tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại luôn được Đảng ta quán triệt, vận dụng một cách sáng tạo và đưa lại những thành tựu to lớn, tạo thế và lực cho dân tộc ta vững bước vào thế kỉ XXI.Trích từ: http://www.kilobooks.com
    thay đổi nội dung bởi: Hienmap, 16-12-2011 lúc 10:55

  6. #4
    Tham gia ngày
    Dec 2011
    Bài gởi
    2
    Mã số thành viên
    461912
    Tài liệu đã mua
    14
    M ỤC L C





    Trang


    A. Mở đầu:
    B. Nội dung:
    I. Tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc

    với sức mạnh thời đại.
    1. Quá trình nhận thức của Hồ Chí Minh về kết hợp sức
    mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
    1.1 Hồ Chí Minh nhận thức về sức mạnh dân tộc.
    1.2. Hồ Chí Minh nhận thức về sức mạnh thời đại.

    2. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. 2.1. Đặt cách mạng Việt Nam trong sự gắn bó với cách mạng vô sản thế giới.
    2.2. Kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng. 2.3. Giữ vững độc lập tự chủ, dựa vào sức mình là chính, tranh thủ sự giúp đỡ của các nước XHCN, sự ủng hộ của nhân loại tiến bộ, đồng thời không quên nghĩa vụ quốc tế cao cả của mình. 2.4. Mở rộng tối đa quan hệ hữu nghị, hợp tác, sẵn sàng “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ”. II. Đảng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong bối cảnh hiện nay.
    1. Thực trạng:

    1.1.Thành tựu
    1.2. Hạn chế.
    2. Vận dụng
    C. Kết luận:









    LỜI MëĐẦU


    Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế là xu hướng khách quan, lôi cuốn các nước, bao trùm hầu hết các lĩnh vực, vừa thúc đẩy hợp tác, vừa tăng cường sức ép cạnh tranh và tính tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế.Đối với nước ta, hội nhập kinh tế quốc tế là nhu cầu vừa bức xúc, vừa cơ bản lâu dài. Chủ động và tích cực tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, nước ta có cơ hội mở rộng thị trưởng, mở rộng các mối quan hệ hợp tác quốc tế, tranh thủ các nguồn lực bên ngoài để đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
    Hơn 75 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam do Chủ Tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, nhân dân ta đã tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng đầy gian khổ, hy sinh và đã giành được nhiều thắng lợi to lớn. Một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những thắng lợi đó là chúng ta đã biết kết hợp tài tình sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Đây cũng chính là một trong những bài học lớn mà Đảng ta đã rút ra qua thực tiễn đấu tranh cách mạng.của.mình.
    Ngày nay trong bối cảnh Việt Nam đang chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đòi hỏi chúng ta phải năm vững bài học trên đây, phải biết kết hợp đúng đắn và khéo léo sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, nhân tố nội lực và nhân tố ngoại lực để tạo ra tổng hợp lực nhằm thúc đẩy đất nước phát triển, hội nhập thành công và bên vững vào nền kinh tế quốc tế. Chính vì vậy, việc nghiên cứu về mối quan hệ giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại;phát huy và kết hợp hiệu quả giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại luôn có một ý nghĩa to lớn cả về lý luận và thực tiễn trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam hiện nay.
    Xuất phát từ nhận thức trên đây, em chọn đề tài: “II. Đảng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong bối cảnh hiện nay.



    B :N ỘI DUNG II. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ KẾT HỢP SỨC MẠNH DÂN TỘC VỚI SỨC MẠNH THỜI ĐẠI.
    1. Quá trình nhận thức của Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
    1.1 Hồ Chí Minh nhận thức về sức mạnh dân tộc: Hồ Chí Minh là một nhà yêu nước vĩ đại, Người rời Tổ quốc mang theo nhận thức và niềm tin vào sức mạnh dân tộc: đó là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý thức về độc lập, chủ quyền quốc gia. Người đề cao sức mạnh của lòng yêu nước “dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước .” khơi dậy ý thức về độc lập, chủ quyền “trên đời có nghìn vạn điều cay đắng, cay đắng chi bằng mất tự do”, hoặc “Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường sơn, cũng quyết giành cho bằng được nền độc lập”, hoặc “chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước nhất định không chịu làm nô lệ”; Hồ Chí Minh cũng đề cao ý thức của khối đại đoàn kết để khắc phục địch hoạ, thiên tai trong lao động sản xuất . Ba truyền thuyết: Thánh Gióng, Trăm trứng, Sơn tinh Thuỷ tinh, phản ánh ý thức về chủ quyền dân tộc, chống ngoại xâm, chống thiên tai. Đồng thời Người cũng lạc quan tin tưởng vào sức mạnh dân tộc; “Sự đầu độc có hệ thống của bọn thực dân không thể làm tê liệt sức sống, tư tưởng cách mạng của người Đông Dương Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sục sôi, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm khi thời cơ đến”. [IMG]file:///C:/DOCUME~1/TRANBA~1/LOCALS~1/Temp/msohtml1/01/clip_image002.jpg[/IMG]
    Sức mạnh dân tộc còn gắn với yếu tố địa lý, chính trị. Bác nêu 3 yếu tố: thiên thời- địa lợi- nhân hoà, trong đó nhân hoà là yếu tố quan trọng và quyết định. “Nước ta ở vào sứ nóng, khí hậu tốt, rừng vàng, biển bạc, nhân dân ta dũng cảm và cần kiệm. Các nước anh em lại giúp đỡ nhiều. Thế là ta đã có 3 điều kiện: thiên thời, địa lợi, nhân hoà.”
    Sống trong môi trường hoạt động của giai cấp công nhân, Hồ Chí Minh đã chứng kiến cuộc sống khổ cực của nhân dân các nước thuộc địa, Người phát hiện ra mối tương đồng giữa các dân tộc bị áp bức: “Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột”. Và tình hữu ái vô sản là thật mà thôi, đó là cơ sở hình thành nhận thức: muốn cứu nước cần phải đoàn kết cùng dân tộc khác cùng chung cảnh ngộ. Sau khi tiếp xúc luận cương của Lênin, Người càng chú ý mối quan hệ mật thiết giữa cách mạng thuộc địa và cách mạng vô sản. Hồ Chí Minh kêu gọi hãy vì nền hoà bình thế giới, vì tự do và ấm no, những người bị bóc lột thuộc mọi chủng tộc cần đoàn kết lại và chống áp bức.
    Qua khảo sát thực tế, Hồ Chí Minh cho rằng: chủ nghĩa đế quốc là lực lượng phản động quốc tế, là kẻ thù chung của nhân dân lao động ở cả chính quốc và thuộc địa. Muốn thắng lợi, phải thực hiện liên minh chiến đấu giữa lao động thuộc địa với vô sản chính quốc.
    1.2. Hồ Chí Minh nhận thức về sức mạnh thời đại: hình thành từng bước từ cảm tính đến lý tính với mục tiêu là giải phóng dân tộc, phát triển đất nước trong dòng thác chung của thời đại. Thời đại, mà Bác Hồ chứng kiến, mở đầu bằng cách mạng tháng Mười Nga- quá độ từ Chủ Nghĩa Tư Bản lên CNXH, thời đại của phong trào giải phóng dân tộc, sự sụp đổ của Chủ Nghĩa Thực Dân, thời đại độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Bác cho rằng phải thực hiện khối liên minh chiến đấu giữa vô sản chính quốc với lao động thuộc địa nhằm một lúc tấn công chủ nghĩa đế quốc từ cả hai phía. Sức mạnh thời đại là sức mạnh của ba dòng thác cách mạng: cách mạng XHCN, cách mạng giải phóng dân tộc, phong trào đấu tranh cho hoà bình dân chủ. Phát huy sức mạnh thời đại là phải biết huy động các phong trào cách mạng trên thế giới phục vụ cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Trong luận cương của Lênin yêu cầu phải làm cho vô sản và quần chúng lao ở tất cả các nước gần gũi nhau. Sức mạnh thời đại mà Hồ Chí Minh nhận thức là sức mạnh của tiến bộ khoa học công nghệ, làm thay đổi có tính cách mạng về các lĩnh vực như : năng lượng, vật liệu, công nghệ sinh học, giao thông vận tải , loài người đã tiến một bước dài trong việc chinh phục thiên nhiên. “50 năm qua thế giới đã có những chuyển biến lớn .đặc biệt là sức mạnh nguyên tử, nhiều hơn thế kỷ trước cộng lại”. Sự xuất hiện của hệ thống XHCN đã trở thành một nhân tố làm nên sức mạnh thời đại. Từ tuyên truyền đến tổ chức, Người tham gia sáng lập Hội liên hiệp thuộc địa Pháp, xuất bản báo Người cùng khổ => Sức mạnh thời đại mà Hồ Chí Minh nhìn nhận là sức mạnh cả về chính trị-xã hội, cả sức mạnh về khoa học - công nghệ. Hồ Chí Minh nhìn nhận sức mạnh thời đại trong trạng thái động và biến đổi tương tác giữa các lực lượng ở trong nước và quốc tế. Từ đó, Người đề ra khẩu hiệu hành động thích hợp nhằm thay đổi tình huống. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là kết hợp giữa chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Hồ Chí Minh tìm thấy sức mạnh cho dân tộc đó là, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Như vậy ,Tư Tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnhdân tộc với sức mạnh thời đại là một hệ thống quan điểm khoa học thấm đượm tinh thần độc lập tự chủ và tinh thần quốc tế trong sáng không phải chỉ có giá trị chỉ đạo đối với sự nghiệp Cách mạng Việt Nam hiện nay mà còn có giá trị định hướng lâu dài cho cả sự nghiệp đấu tranh của nhân dân tabvì mục tiêu cao cả của thời đại , hoà bình, độc lập dân tộc dân chủ và tiến bộ xã hội. Ngoài ra tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là một bộ phận quan trọng trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh 2. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. 2.1. Đặt cách mạng Việt Nam trong sự gắn bó với cách mạng vô sản thế giới: Theo Lênin phải “nhận thức rõ thời đại mà ta đang sống” “giai cấp nào đang là giai cấp trung tâm của thời đại” “xây dựng nội dung căn bản của thời đại, phương hướng phát triển chính của thời đại, những đặc điểm chủ yếu của bối cảnh lịch sử thời đại ấy”. Đọc sơ thảo luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc thuộc địa, Hồ Chí Minh rút ra kết luận: Muốn cứu nước, giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường CMVS. Đặt cách mạng VN vào quỹ đạo cách mạng vô sản, Hồ ChíMinh đã khắc phục được sự khủng hoảng về đường lối cứu nước của nước ta.
    +) Về thực tiễn, Người luôn luôn quan tâm hình thành các tổ chức để thực hiện sự kết hợp này: 1921 người sáng lập hội liên hiệp các dân tộc thuộc địa ở Pari, báo Người cùng khổ, hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức Á Đông (1925).
    Trên các diễn đàn quốc tế, Người luôn khẳng định vai trò của CM thuộc địa và sự cần thiết liên minh chiến đấu giữa CM giải phóng dân tộc với CMVS chính quốc, CM giải phóng dân tộc giữa các nước thuộc địa với nhau.
    - Thời đại mà Hồ Chí Minh sống và hoạt động là thời đại có những biến đổi cực kỳ to lớn trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó nổi bật lên hai sự kiệnquan trọng nhất làm thay đổ nội dung của thời đại: Một là, chủ nghĩa tư bản từ tự do cạnh tranh bước sang độc quyền đã phát triển thành hệ thống và làm xuất hiện hệ thống thuộc địa. Hai là, thắng lợi của Cách mạng tháng mười Nga đã mở ra kỷ nguyên mới, kỷ nguyên quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Thời đại mở ra mối quan hệ quốc tế giữa các dân tộc làm cho vận mệnh của mỗi dân tộc không tách rời vận mệnh chung của thế giới. “Thời đại mà một nhóm nước lớn do bọn tư bản tài chính cầm đầu thống trị các nước phụ thuộc và nửa phụ thuộc, bởi vậy công cuộc giải phóng các nước và các dân tộc bị áp bức là bộ phận khăng khít của cách mạng vô sản”. Tất yếu khách quan “phải liên minh chiến đấu chặt chẽ giữa các nước thuộc địa với giai cấp vô sản ở các nước đế quốc để chiến thắng kẻ thù chung”. - Trong thời đại mới, Hồ Chí Minh đã nhận thức sâu sắc rằng "công cuộc giải phóng các nước và các dân tộc bị áp bức là một bộ phận khăng khít của cách mạng vô sản", rằng "cần thiết phải có liênminh chiến đấu chặt chẽ giữa các dân tộc thuộc địa với giai cấp vô sản của các nước đế quốc để chống kẻ thù chung". - Sau khi nắm được đặc điểm và những yêu cầu đặt ra trong thời đại mới, Hồ Chí Minh đã xác định cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới. Người viết: "Cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận trong cách mệnh thế giới. Ai làm cách mệnh trong thế giới đều là đồng chí của dân An -Nam"; "Cách mệnh trước hết phải có Đảng để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc tộc bị áp bức và vô sản giai cấp ở khắp mọi nơi". Tại Đại hội Tua năm 1920, Hồ Chí Minh đã phát biểu: “Hôm nay tôi đến đây góp phần cùng các đồng chí vào cách mạng thế giới”. Bác chú ý mối quan hệ giữa cách mạng phương Đông và phương Tây. Người chỉ ra sự cách biệt của các dân tộc phương Đông, do “họ thiếu sự tin cậy lẫn nhau, thiếu sự phối hợp hành động và cả sự cổ vũ lẫn nhau”. Hồ Chí Minh kiến nghị ban phương Đông của Quốc tế Cộng sản “làm cho các dân tộc hiểu biết nhau hơn và đoàn kết lại để đặt cơ sở cho một liên minh phương Đông tương lai, khối liên minh này chắc chắn sẽ là một trong những cái cánh của cách mạng vô sản”. Tại đại hội V Quốc tế cộng sản, Hồ Chí Minh đã phê phán gay gắt giai cấp công nhân và đảng cộng sản ở chính quốc thờ ơ với cách mạng thuộc địa. “Tôi rất buồn vì điều này, giai cấp tư sản đã tiến hơn một bước so với giai cấp vô sản. Có thể nói Đảng Cộng sản Pháp làm rất ít cho thuộc địa”. Do đánh giá thấp vị trí của cách mạng thuộc địa và Đảng cộng sản chưa làm gì để giáo dục giai cấp công nhân nước mình tinh thần quốc tế chủ nghĩa chân chính, Hồ Chí Minh nói “Tôi sẽ thức tỉnh các đồng chí ” Hồ Chí Minh cho rằng nền tảng sức mạnh là ở nhân dân thuộc địa, chủ nghĩa đế quốc tập trung nọc độc ở thuộc địa, nhân dân thuộc địa là người thủ tiêu chủ nghĩa thực dân. Hồ Chí Minh đã phát triển và vượt xa so với Mác. Nhờ nắm bắt đặc điểm và xu thế của thời đại Nguyễn Ái Quốc đã xác định đường lối chiến lược và phương pháp cách mạng đúng đắn cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc Việt Nam theo con đường vô sản. .- Sau khi nắm được đặc điểm và những yêu cầu đặt ra trong thời đại mới, Hồ Chí Minh đã xác định cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới. Người viết: "Cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận trong cách mệnh thế giới. Ai làm cách mệnh trong thế giới đều là đồng chí của dân An Nam"; "Cách mệnh trước hết phải có Đảng để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc tộc bị áp bức và vô sản giai cấp ở khắp mọi nơi". Và Người đã làm tất cả để gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới.

    2.2. Kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Để kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, các Đảng Cộng sản kiên trì đấu tranh chống lại mọi khuynh hướng sai lầm làm suy yếu khối đại đoàn kết để thống nhất các lực lượng cách mạng thế giới. Các đảng cộng sản phải giáo dục chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế vô sản cho nhân dân lao động nước mình, làm cho tinh thần yêu nước là một bộ phận của tinh thần quốc tế. Nguyễn Ái Quốc kêu gọi “vì nền hoà bình thế giới, vì tự do và ấm no, những người bị bóc lột thuộc mọi chủng tộc cần đoàn kết lại và chống bọn áp bức”. Sau cách mạng giải phóng dân tộc giành độc lập, các dân tộc thuộc địa tất yếu đi theo cách mạng xã hội chủ nghĩa. Hồ Chí Minh viết: “trong thời đại ngày nay, cách mạng giải phóng dân tộc là bộ phận khăng khít của cách mạng vô sản trong phạm vi toàn thế giới; cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn.” Phải biến chủ nghĩa yêu nước truyền thống thành chủ nghĩa nghĩa yêu nước xã hội chủ nghĩa, yêu Tổ quốc gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, nhờ đó chủ nghĩa yêu nước có thêm sức mạnh và phát triển thành chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong thời đại mới. Hệ thống xã hội chủ nghĩa ngày càng lớn mạnh, lực lượng hoà bình hơn hẳn lực lượng chiến tranh thì chủ nghĩa xã hội là nhân tố quyết định đời sống xã hội loài người. Các Đảng Cộng sản dù lớn hay nhỏ đều bình đẳng và độc lập. => Vì thế HCM nhấn mạnh CN yêu nước chân chính phải gắn liền với CNQT vô sản trong sáng. Tinh thần vị quốc chân chính đối lập với tinh thần vị quốc của bọn phản động cầm đầu các nước tư bản, đế quốc.
    Trong kháng chiến chống, Pháp, Mỹ, người luôn giáo dục cho nhân dân ta phân biệt rõ người Pháp-Mỹ chân chính với những người Pháp-Mỹ thực dân, đế quốc; những người lao động yêu hòa bình công lý ở các nước TB, ĐQ, với những người Pháp-Mỹ hiếu chiến, xâm lược.
    Cách mạng giải phóng dân tộc các thuộc địa phải biết đoàn kết với những người lao động chân chính ở các nước đế quốc. Người đấu tranh không mệt mỏi chống những biểu hiệu của tư tưởng "sô vanh", "vị kỷ" nhằm củng cố tăng cường tính đoàn kết hữu nghị giữa các dân tộc trên thế giới.
    Đặt cách mạng Việt Nam vào quỹ đạo Cách
    Mng Sn thế giới là sự kết hợp tinh hoa dân tộc với trí tuệ thời đại, làm cho chủ nghĩa yêu nước truyền thống phát triển thành chủ nghĩa yêu nước XHCN, lòng yêu nước với yêu CNXH.
    - Để có thể kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, Hồ Chí Minh yêu cầu các Đảng Cộng sản phải giáo dục chủ nghĩa yêu nước chân chính kết hợp với chủ nghĩa quốc tế trong sáng cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động nước mình. Và Người luôn nhắc nhở nhân dân ta rằng: "Tinh thần yêu nước chân chính khác hẳn với tinh thần "vị quốc" của bọn đế quốc phản động. Nó là một bộ phận của tinh thần quốc tế".
    - Để kết hợp chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng trong cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã triệt để phát huy sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc chân chính, đồng thời Người đã nỗ lực không mệt mỏi để củng cố và tăng cường tình đoàn kết, hữu nghị giữa Việt Nam với các dân tộc khác đang đấu tranh cho mục tiêu chung là hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
    Hồ Chí Minh là người có đóng góp to lớn vào lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về kết hợp chặt chẽ giữa chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Luận điểm “con đỉa 2 vòi”, “liên minh các dân tộc phương Đông là một trong những cái cánh của cách mạng vô sản”, khẳng định chủ nghĩa xã hội có thể áp dụng ở phương Đông chính là sự phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin của Hồ Chí Minh. Đoàn kết quốc tế là nhân tố đảm bảo cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam


    2.3. Giữ vững độc lập tự chủ, dựa vào sức mình là chính, tranh thủ sự giúp đỡ của các nước XHCN, sự ủng hộ của nhân loại tiến bộ, đồng thời không quên nghĩa vụ quốc tế cao cả của mình. Hồ Chí Minh nêu cao tinh thần “tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính”, “muốn người ta giúp cho, thì trước hết phải tự giúp mình đã”, “một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được hưởng độc lập”. Với tư tưởng này khi Người gửi lời kêu gọi tới anh em ở thuộc địa có viết; “Anh em phải làm thế nào để được giải phóng? Vận dụng công thức của Mác, chúng tôi xin nói với anh em rằng, công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em”. Người còn nói “đem sức ta mà giải phóng cho ta, họ còn giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong sự nghiệp giải phóng hoàn toàn”. Tự giải phóng là tư tưởng, quan điểm lớn của Hồ Chí Minh. Nhờ vậy, Người đã có quan điểm “cách mạng thuộc địa không phụ thuộc vào cách mạng vô sản chính quốc, mà còn có thể giúp đỡ người anh em ở phương Tây ”. Muốn tranh thủ sức mạnh thời đại cần phải có một đường lối độc lập tự chủ đúng đắn. Kết hợp chặt chẽ mục tiêu đấu tranh cho độc lập dân tộc mình với bốn mục tiêu của thời đại: hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, chủ nghĩa xã hội. Kết hợp chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế, tranh thủ sự ủng hộ của nhân loại tiến bộ, nhân dân ta không quên nghĩa vụ quốc tế cao cả. Bác thường nói: “phải coi cuộc đấu tranh của bạn như cuộc đấu tranh của ta”. Tranh thủ sự ủng hộ , giúp đỡ của các lực lượng cách mạng tiến bộ trên thế giới nhưng không ỷ lại trông chờ , mà phải nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính , phải đem sức ta để tự giải phóng cho ta.
    Ta không nhận sự giúp đỡ một chiều của bạn bè quốc tế, mà phải bằng thành quả của cách mạng nước ta để góp phần tăng cường sức mạnh cách mạng thế giới , theo tinh thần giúp bạn là tự giúp mình .
    +) Trong mối quan hệ giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại , Hồ Chí Minh xác định sức mạnh dân tộc giữ vai trò quyết định , còn sức mạnh thời đại có vai trò quan trọng, sức mạnh thời đại chỉ phát huy tác dụng thông qua sức mạnh dân tộc.
    => Khẳng định sức mạnh dân tộc giữ vai trò quyết định nhưng Hồ Chí Minh không hề xem nhẹ việc tranh thủ sức mạnh thời đại, đặc biệt là tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới.
    Để tranh thủ sự ủng hộ , giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, sự đồng tình , ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới , Người yêu cầu Đảng ta phải có đường lối độc lập , tự chủ đúng đắn . Trong đường lối đó , phải kết hợp chặt chẽ mục tiêu đấu tranh cho độc lập , tự do của dân tộc mình với các mục tiêu cơ bản của loài người tiến bộ là hoà bình , độc lập dân tộc , dân chủ và chủ nghĩa xã hội . Bên cạnh đó , Người cũng yêu cầu Đảng ta phải động viên nhân dân ta tích cực thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả của mình.

    .
    2.4. Mở rộng tối đa quan hệ hữu nghị, hợp tác, sẵn sàng “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ”.

    Trong quá trình tìm đường cứu nước Bác là người đầu tiên đặt nền móng cho tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước trên thế giới. Bác nói: “Chính sách ngoại giao của Chính phủ Việt Nam thì chỉ có một điều tức là thân thiện với tất cả các nước dân chủ trên thế giới để giữ gìn hoà bình”, “thái độ của Việt Nam đối với những nước Á châu là thái độ anh em, đối với ngũ cường là thái độ bạn bè”. Bác sớm có tư tưởng đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ đối ngoại “tiến bộ chung phụ thuộc vào việc phát triển chủ nghĩa quốc tế và văn minh chỉ có lợi khi các quan hệ quốc tế được mở rộng và tăng cường”. - Phương châm đối ngoại mà Hồ Chí Minh đề ra cho Việt Nam sau khi nước ta giành được độc lập là "sẵn sàng làm bạn với mọi nước dân chủ không gây thù oán với một ai" ; " Chính sách ngoại giao của Chính phủ thì chỉ có một điều tức là thân thiện với tất cả các nước dân chủ trên thế giới để giữ gìn hoà bình".
    - Trong quan hệ với tất cả các nước , Hồ Chí Minh đã giành ưu tiên cho quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa anh em và các nước láng giềng gần gũi với Việt Nam.
    - Hồ Chí Minh là người đã đặt cơ sở đầu tiên cho tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân nhiều nước trên thế giớ i. Sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau giữa Việt Nam và các nước đã được Người tạo dựng ngay từ những năm tháng Người bôn ba ở nước ngoài . Từ khi nước ta giành được độc lập , Những hoạt động ngoại giao không mệt mỏi của Người đã nâng cao địa vị của Việt Nam trên trường quốc tế, tăng cườngquan hệ hữu nghị với các nước , các dân tộc.
    +)Đối với Pháp: Hồ Chí Minh nêu “Việt Nam sẵn sàng cộng tác thân thiện với nhân dân Pháp . Những người Pháp , tư bản hay công nhân, thương gia hay trí thức, nếu họ muốn thật thà cộng tác với Việt Nam thì sẽ được nhân dân Việt Nam hoan nghênh họ như những anh em bầu bạn”.

    +)Hồ Chí Minh dành ưu tiên cho quan hệ với các nước láng giềng châu Á. Láng giềng gần (Trung quốc, Lào, Campuchia), láng giềng xa và các nước Đông Nam Á. “Trong chính sách đối ngoại của mình, nhân dân Việt Nam sẽ tuân thủ những nguyên tắc sau: (1) Đối với Lào và Miên, Việt Nam tôn trọng nền độc lập của hai nước đó và bày tỏ lòng mong muốn hợp tác trên cơ sở bình đẳng tuyệt đối giữa các nước có chủ quyền. (2) Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trên mọi lĩnh vực: - Việt nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình. - Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế. - Nước Việt Nam chấp nhận sự tham gia của mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc. - Nước Việt Nam sẵn sàng ký kết với các lực lượng hải quân, lục quân trong khuôn khổ của Liên hợp quốc những hiệp định an ninh đặc biệt và những hiệp ước liên quan đến việc sử dụng một vài căn cứ hải quân và không quân”. Với trí tuệ thiên tài, với tinh thần quốc tế trong sáng, với đức độ khiêm nhường và thái độ thiện chí, Hồ Chí Minh vượt qua mọi trở ngại, từ trong mối quan hệ chồng chéo, phức tạp của thời đại đề ra đường lối cách mạng đúng đắn,phương pháp ứng xử sáng tạo phù hợp với từng giai đoạn của cách mạng phát huy tối đa sức mạnh thời đại và sức mạnh dân tộc đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi trọn vẹn. .
    II. Đảng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong bối cảnh hiện nay.
    1. Thực trạng:

    1.1 Thành tựu: Từ khi Đảng ra đời (1930), coi cách mạng Việt Nam là 1 bộ phận của cách mạng vô sản thế giới, sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại từng bước kết hợp 1 cách đúng đắn. Cách Mạng Tháng 8 thành công là sự thể hiện của việc kết hợp sức mạnh to lớn của dân tộc Việt Nam với sức mạnh vĩ đại của thời đại. +) Giai đoạn (1945-1954) với chủ trương dựa vào sức mình là chính , đồng thời được sự giúp đỡ của Trung Quốc , Liên Xô và sự đồng tình của nhân dân thế giới kể cả Đảng Cộng Sản và nhân dân lao động Pháp , từng bước đi tới thắng lợi, nhất là ở chiến dịch lịch sủ Điện Biên Phủ.
    +) Giai đoạn (1954-1975) Đảng ta đã phát huy cao độ sức mạnh dân tộc, tranh thủ tối đa sức mạnh thời đại, bao gồm sức mạnh của hệ thống Xã hội chủ nghĩa , phong trào giải phòng dân tộc , phong trào hoà bình dân chủ, sức mạnh của Liên Xô, Trung Quốc, khối đại đoàn kết 3 nước Đông Dương, đánh bại đế quốc Mỹ , thống nhất Tổ quốc.
    +) Từ năm 1975 đến nay, nhất là từ 1986, Đảng đã đề ra đường lối đổi mới, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, từ bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp đã phát huy được tiềm năng của đất nước. Đảng và nhà nước đã đưa đất nước vượt qua khủng hoảng kinh tế-xã hội, chuyển mạnh sang thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

    Vận dụng và phát triển sáng tạo bài học đó trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới của Đảng hơn 25 năm qua, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng như: +) Lĩnh vực ngoại giao chúng ta đã thu được nhiều thành tựu mới hết sức quan trọng gắn liền với xây dựng phát triển kinh tế - xã hội và củng cố Quốc phòng An ninh. Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với 179 quốc gia, quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư với 224 nước và vùng lãnh thổ. Việt Nam đã chấm dứt hoàn toàn hội chứng bao vây cấm vận của nước ngoài, trở thành là bạn, là đối tác tin cậy của các quốc gia, các tổ chức quốc tế trên toàn thế giới. Vị thế Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng nâng cao. +) Việt Nam trở thành điểm đến thân thiện hấp dẫn với bè bạn bốn phương. Đặc biệt là cuộc Hội thảo quốc tế về phát triển Hà Nội với 200 đại biểu nước ngoài tham dự; Hội nghị về quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+) với 18 Bộ trưởng Bộ Quốc phòng của 18 quốc gia trong đó có cả Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Nga, Mỹ tham dự đã cùng ra tuyên bố Hà Nội" cam kết hợp tác bảo vệ hoà bình, giữ vững an ninh trong khu vực với tinh thần hiểu biết tin cậy lẫn nhau. +)Trên mặt trận ngoại giao, hiệu quả về lĩnh vực kinh tế đối ngoại đã góp phần mở rộng xuất khẩu, thu hút đầu tư, tài trợ quốc tế (FDI, ODA) và khoa học công nghệ Từ năm 1991 đến nay, kim ngạch thương mại nước ta tăng từ 5 tỷ USD lên hơn 100 tỷ USD năm 2009, gấp 20 lần
    +) Kinh tế tăng trưởng nhanh
    +) Chính trị - xã hội ổn định
    +) Quốc phòng - an ninh : được giữ vững

    +)Thế và lực của đất nước đã vững mạnh thêm nhiều; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng lên, tạo tiền đề quan trọng để đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

    => Những thành tựu đó chứng minh rằng, để tạo nên sức mạnh to lớn, giành thắng lợi trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và đổi mới xây dựng đất nước, chúng ta phải biết khai thác và phát huy cao nhất sức mạnh của dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế, trên cơ sở kiên định ý chí độc lập, tự chủ, phát huy sức mạnh nội lực, dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ ngoại lực, khai thác tối đa sức mạnh của thời đại. 1.2. Hạn chế:
    +) Thế của ta chưa thật vững chắc và lực của ta nói chung còn yếu . +) Nước ta vẫn là một nước đang phát triển, + )Kinh tế phát triển chưa bền vững, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh thấp +) Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá còn chậm; các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc; chế độ phân phối còn nhiều bất hợp lý. +) Những hạn chế, yếu kém trong các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, khoa học công nghệ, văn hoá, xã hội, bảo vệ môi trường chậm được khắc phục; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tội phạm, tệ nạn xã hội, suy thoái đạo đức, lối sống . chưa được ngăn chặn, đẩy lùi. +) Thể chế kinh tế, chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng vẫn là những điểm yếu cản trở sự phát triển. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết dân tộc chưa được phát huy đầy đủ. +) Một số mặt công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân chuyển biến chậm. +) Còn tiềm ẩn những yếu tố gây mất ổn định chính trị - xã hội +) Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí còn nghiêm trọng. +) Những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" có diễn biến phức tạp 2. Vận dụng: Tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là nền tảng chính trị trong đường lối đổi mới của Đảng ta. Thấm nhuần Tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện của Đảng trong những năm đổi mới đều khẳng định sự cần thiết phải vận dụng sáng tạo tư tưởng kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại do Người nêu lên. Nghị quyết Đại hội VII của Đảng ( 1991 )khẳng định ; Trong điều kiện mới càng phải coi trọng vận dụng bài học kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế, yếu tố truyền thống với yếu tố hiện đại để phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa bi:
    +) Trong những năm đổi mới, quan điểm “ Làm bạn với các nước dân chủ và không gây thù oán với một ai” của Hồ Chí Minh được Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm và vận dụng sáng tạo. Văn kiện Đại hội IX của Đảng đã khẳng định : Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển
    kỉ
    => Từ
    thùc tr¹ng trªn ®©y đòi hỏi việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thêi bèi c¶nh hiÖn nay cña §¶ng lµ hÕt søc quan träng ®ßi hái phải có chiến lược, sách lược, hình thức và phương pháp xử lý đúng đắn, sáng tạo. Trước hết và quan trọng nhất là: kiên định ý chí độc lập, tự chủ, khơi dậy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, phát huy cao độ nội lực; đồng thời, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, tranh thủ và sử dụng có hiệu quả nguồn lực bên ngoài cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Xuất phát từ bối cảnh quốc tế, khu vực và trong nước, kế thừa và phát triển những kinh nghiệm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong quá khứ, Đảng ta đã rút ra bài học và khẳng định: phải “phát huy dân chủ, khơi dậy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển đất nước”2. Đồng thời, Đảng ta cũng xác định rõ mối quan hệ giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, giữa yếu tố nội lực và ngoại lực trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; trong đó, coi “phát huy nội lực và sức mạnh dân tộc là yếu tố quyết định, đồng thời tranh thủ ngoại lực và sức mạnh thời đại là yếu tố quan trọng”3. Đây là những quan điểm cơ bản chỉ đạo xuyên suốt quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN thời kỳ mới. Vì vậy, những quan điểm này phải được thường xuyên tuyên tuyền, giáo dục, quán triệt sâu rộng trong hệ thống chính trị và quần chúng nhân dân. Qua đó, làm cho các cấp, các ngành, địa phương, đơn vị và toàn dân nhận thức sâu sắc rằng, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là tất yếu khách quan; trong đó và trước hết phải giữ vững độc lập, tự chủ, nêu cao ý chí tự lực, tự cường, phát huy cao nhất các yếu tố nội lực, dựa vào nguồn lực trong nước là chính, bao gồm nguồn lực con người, đất đai, tài nguyên, trí tuệ, truyền thống (lịch sử, văn hoá) của dân tộc. Nếu thực hiện không tốt vấn đề này, thì nước ta không thể đứng vững, đi lên một cách lâu bền và cũng không thể hội nhập quốc tế một cách bình đẳng, sâu rộng và có hiệu quả. Mặt khác, chúng ta phải chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, tranh thủ sự hợp tác, liên kết với các nước để khai thác nguồn vốn đầu tư, khoa học, kỹ thuật, công nghệ và kinh nghiệm quản lý, điều hành đất nước cả ở tầm vĩ mô và vi mô. Trong hội nhập quốc tế, phải luôn chủ động thích ứng với những thay đổi của tình hình, bảo đảm hiệu quả và lợi ích quốc gia, dân tộc. Đó chính là bài học xây dựng, sử dụng sức mạnh tổng hợp, làm cho các yếu tố thời đại, quốc tế chuyển hoá và kết hợp với nội lực tạo ra thế và lực mới, giúp chúng ta vượt qua khó khăn, thách thức, tận dụng tốt thời cơ để đổi mới và phát triển bền vững. Hai lµ :Trên cơ sở nâng cao nhận thức, nắm vững quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng, cần vận dụng và xử lý một cách linh hoạt, sáng tạo việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ Quốc Phòng - An Ninh, bảo vệ Tổ quốc Xã Hội Ch ủ Ngh ĩa. Quốc Phòng - An Ninh vững mạnh, giữ vững ổn định chính trị của đất nước là một yếu tố cơ bản quyết định việc tiếp thu có hiệu quả nguồn ngoại lực và sức mạnh quốc tế. Trong những năm chiến tranh, chúng ta đã có nhiều kinh nghiệm quý về tận dụng và phát huy những thành quả hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quốc phòng, nhất là đào tạo cán bộ, tiếp thu những thành tựu tiên tiến của khoa học nghệ thuật quân sự, khoa học kỹ thuật quân sự ., để xây dựng quân đội, tăng cường sức mạnh cho cuộc kháng chiến. Ngày nay, trong điều kiện và hoàn cảnh mới, hoạt động hợp tác quốc phòng đã có những phát triển khác trước rất nhiều, từ đối tác, nội dung đến hình thức thể hiện; nhiều vấn đề mới, phức tạp nảy sinh, nhất là vấn đề an ninh phi truyền thống (khủng bố, cướp biển, buôn lậu, tội phạm ma tuý và các thảm họa thiên nhiên .) vượt ra ngoài khả năng quốc gia, đòi hỏi phải có sự hợp tác giải quyết của các nước trong khu vực và cộng đồng quốc tế. Bởi vậy, cần nhận thức đúng về hợp tác quốc phòng, phát huy sức mạnh thời đại để xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng trong điều kiện mới. Trong hoạt động hợp tác quốc phòng, tuy có đặc thù và nhiệm vụ riêng, nhưng đều phải quán triệt và phục vụ mục tiêu chung của cách mạng; đó là, xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa. Hợp tác quốc phòng muốn đạt hiệu quả cao phải phối hợp chặt chẽ với các lĩnh vực hợp tác và đấu tranh khác, nhất là về kinh tế, chính trị, khoa học-công nghệ, văn hoá, nhằm đạt được yêu cầu là hợp tác trên các lĩnh vực đều phải tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác quốc phòng và xây dựng sức mạnh quốc phòng; ngược lại, kết quả hợp tác quốc phòng phải góp phần thúc đẩy các quan hệ hợp tác về kinh tế, khoa học-công nghệ, đầu tư, thương mại phát triển. Ba lµ: Trong mối quan hệ sử dụng sức mạnh nội lực và tranh thủ tối đa ngoại lực để xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, phải nắm vững tư tưởng chỉ đạo: tận lực khai thác mọi tiềm năng của đất nước, kinh nghiệm và truyền thống của dân tộc; giữ vững độc lập, tự chủ, phát huy ý chí tự lực, tự cường, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân là lực lượng nòng cốt. Đồng thời, tranh thủ tối đa ngoại lực, sức mạnh của thời đại, trên cơ sở tăng cường và mở rộng quan hệ hợp tác quốc phòng giữa nước ta với các nước đối tác trên nhiều mặt: hợp tác giữ vững an ninh khu vực và bảo vệ hoà bình thế giới; hợp tác nghiên cứu, phát triển khoa học quân sự, phát triển trang bị vũ khí, đào tạo, huấn luyện cán bộ, nhân viên kỹ thuật, trao đổi công nghệ quân sự hiện đại; nghiên cứu mở rộng hợp tác ứng dụng những thành tựu mới của khoa học-công nghệ, nhất là công nghệ thông tin, tự động hoá vào các lĩnh vực hoạt động quốc phòng; nâng cao quy mô, trình độ hiện đại hoá tổ chức, chỉ huy, bảo quản, sửa chữa, cải tiến thiết kế, chế tạo vũ khí, trang bị kỹ thuật . Đó là những nội dung vừa có tính cấp thiết trước mắt, vừa cơ bản lâu dài, nhằm tăng cường sức mạnh quốc phòng, sức mạnh của quân đội để bảo vệ đất nước tốt hơn, có khả năng răn đe, ngăn ngừa và đẩy lùi các nguy cơ đe dọa đến an ninh quốc gia. Bèn lµ: Về hình thức hợp tác quốc phòng, cần tăng cường mở rộng và nâng tầm các quan hệ hợp tác song phương, đa phương với các nước đối tác, đặc biệt là với các nước láng giềng, các nước bạn bè truyền thống, các nước trong khối ASEAN và các nước có tiềm lực quốc phòng mạnh, cũng như tham gia các diễn đàn an ninh khu vực và quốc tế. Trong hoạt động, chú trọng giữ vững quan điểm, đường lối, nguyên tắc chiến lược, nhưng cần linh hoạt, sáng tạo, mềm dẻo trong sách lược; phát huy những thế mạnh của đất nước, của quân đội; tranh thủ những điểm tương đồng, những lợi ích chung, vừa hợp tác vừa đấu tranh trên cả bình diện chiến lược cũng như cấp hành động, tạo sự hiểu biết, tin cậy lẫn nhau, làm cho các hoạt động hợp tác đạt hiệu quả cao; góp phần tạo ra môi trường hoà bình, ổn định và điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Xã Hội Chủ Nghĩa. N¨m lµ: Đảng ta ®· ®ẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp; ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa; phát huy cao độ nội lực đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hoá, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng-anninh. S¸u lµ: CÇn phải giáo dục cho nhân dân có được niềm tin về lý tưởng XHCN trong điều kiện thế giới có nhiều biến đổi. Cần phải xử lý nghiêm minh, công bằng đối với những hành vi vi phạm pháp luật làm suy thoái tư tưởng, băng hoại đạo đức xã hội. Hội nhập quốc tế mà không được chệch hướng XHCN, bảo đảm mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào cách mạng thế giới.

    B¶y lµ: Không ngừng bảo vệ và pháy huy bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc, làm cho bản sắc văn hoá được giữ vững và phát triển. Giữ vững tinh thần độc lập tự chủ trong tiếp thu sức mạnh bên ngoài, kết hợp sức mạnh trong nước. Việc giáo dục tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc chính đáng, ý thức bảo vệ văn hoá dân tộc, tiếp thu có chọn lọc văn hoá nước ngoài là những yêu cầu cấp thiết được đặt ra đối với việc “mở cửa”. Công tác đối ngoại được xác định có vai trò quan trọng đối với việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnhcủathờiđại.
    Thực tiễn công cuộc đổi mới vì mục tiêu “ dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” ở nước ta trong suốt thời gian qua đã chứng minh rằng : Tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại luôn được Đảng ta quán triệt, vận dụng một cách sáng tạo và đưa lại những thành tựu to lớn, tạo thế và lực cho dân tộc ta vững bước vào thế kỉ XXI.Trích từ: http://www.kilobooks.com