Thông tin chi tiết
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
NỘI DUNG .
PHẦN I - MỘT SỐ TƯ TƯỞNG MỸ HỌC TRƯỚC MÁC
PHẦN II - MỸ HỌC MÁC - LÊNIN.
I. Đối tượng nghiên cứu của mỹ họcLuận Văn - Đề Án - Tiểu Luận Mỹ Học Mác - Lênin
II. Quan hệ thẩm mỹ
III. Khách thể thẩm mỹ
IV. Chủ thể thẩm mỹ
V. Nghệ thuật
VI. Giáo dụcLuận Văn - Đề Án - Tiểu Luận Giáo Dục thẩm mỹ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
I. TƯ TƯỞNG MỸ HỌC THỜI KỲ HY LẠP – LA MÃ
CỔ ĐẠI
Tư tưởng mỹ học Cổ đại được hình thành vàp khoảng thế kỷ IX (TCN), phát triển rực
rỡ vào cuối thế kỷ VI (TCN), đạt đến độ cực thịnh vào thế kỷ IV trước công nguyên, sau đó
thoái trào và kết thúc vào đầu thế kỷ thứ VI sau công nguyên.
Các tư tưởng mỹ học Hy Lạp cổ đại thoạt đầu hình thành ở dải đất Iôni, phía đông Địa
Trung Hải, sau đó lan chuyển sang đảo Sisin và Nam bán đảo Italia, nhưng khi phát triển rực
rỡ nhất thì lại ở Aten. Người Hy Lạp đã lập nên hệ thống mỹ học của mình nhờ việc tiếp cận
các tri thức phương Đông (của người Ai Cập và của người vùng Lưỡng Hà) thông qua tộc
người Phênixi ở phía nam dải đất Iôni.
Đời sống văn hóaLuận Văn - Đề Án - Tiểu Luận Văn Hóa nghệ thuật Hy Lạp cổ đại cũng có sự phát triển rực rỡ, với các tác
phẩm bất hủ như Iliát và Ôđixê (Hôme), các vở kịch Ôrexti, Prômêtê bị xiềng (Étsin), Ơđíp
vua, Ăngtigôn (Xôphốc), Mêđê (Ơripít), các vở kịch hài của Arixtôphan; các công trìnhLuận Văn - Đề Án - Tiểu Luận Công Trình kiến
trúc nổi như đền thờ thần Áctemít (ở thành phố Êphez), đền Atena và quần thể kiến trúcLuận Văn - Đề Án - Tiểu Luận Kiến Trúc
Aùcrôpôl, đền Páctenông (Phiđi và Ictinus); các tác phẩm điêu khắc mẫuThư viện mẫu văn bản mực như tượng
khổng lồ Atena cao 10 mét, tượng Đêtêmê, tượng thần Zớt (Phiđi) Hécmét, Vệ nữ Cnidơ, Vệ
nữ Ácli, các tượng Apôlông (Praxichen) với những tác phẩm hoàn mỹ như vậy, nghệ thuật
của người Hy Lạp cổ đại đến ngày nay vẫn được giữ nguyên giá trị mẫu mực của nó. Vì vậy
nó buộc các nhà tư tưởng thời bấy giờ phải lưu tâm nghiên cứu, đánh giá, nhận xét về chúng,
tư tưởng mỹ học Hy Lạp cổ đại hình thành từ đó.
Theo Pitago (580 – 500 TCN) con số lập nên bản chất mọi sự vật, từ đó cho rằng cái
đẹp là do sự hài hòa giữa các con số hay nói cách khác “cái đẹp là sự hài hòa trong quan hệ số
lượng”. Ông chứng minh bằng hiện tượng chất lượng âm thanh phụ thuộc vào chiều dài dây
đàn và tìm ra quan hệ số lượng trong âm nhạc như quãng tám: 1:2 ; quãng năm: 2:3 ; quãng
bốn: 3:4. Ông đồng nhất hài hòa với hoàn thiện và vẻ đẹp bằng một hình thức chất phát, ông
phát hiện sức mạnh của nghệ thuật khi cho rằng, có thể dùng âm nhạc để chữa bệnh và giáo
dục đạo đức công dân.
CHÚ THÍCH : TÀI LIỆU GỒM FILE PDF + WORD













Tài liệu này thành viên đăng và được KiloBooks.Com Đảm Bảo.
Trích Dẫn