Tìm kiếm
Đang tải khung tìm kiếm
Chia sẻ link hay nhận ngay tiền thưởng

    LUẬN VĂN Thời gian và không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết sống mòn của nam cao

    kiloshare kiloshare is offline (7,334 tài liệu)
    Thành Viên Tích Cực
    5
  1. Gửi tài liệu
  2. Bình luận
    5
  3. Chia sẻ
  4. Thông tin
    8
  5. Công cụ
  6. Đề tài: THỜI GIAN VÀ KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT SỐNG MÒN CỦA NAM CAO


    Luận văn dài 87 trang

    Chương I: LÍ LUẬN CHUNG VỀ THỜI GIAN VÀ KHÔNG GIAN NGHỆ
    THUẬT
    1. Thời gian nghệ thuật
    1.1. Khái niệm thời gian nghệ thuật
    1.2. Cấu trúc và biểu hiện của thời gian nghệ thuật
    1.2.1 Thời gian được trần thuật
    1.2.2.Thời gian trần thuật
    2. Không gian nghệ thuật
    2.1. Khái niệm không gian nghệ thuật
    2.2. Các loại không gian nghệ thuật
    2.2.1.Không gian bối cảnh
    2.2.2.Không gian sự kiện
    2.2.3.Không gian tâm lý



    Chương II: THỜI GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT SỐNG
    MÒN CỦA NAM CAO
    2.1. Thời gian được trần thuật
    2.1.1. Thời gian hiện thực hàng ngày
    2.1.2. Thời gian hồi tưởng
    2.1.3. Thời gian tương lai
    2.1.4. Thời giann tâm trạng
    2.2. Thời gian trần thuật



    Chương III: KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT
    SỐNG MÒN CỦA NAM CAO
    3.1. Không gian bối cảnh
    3.2. Không gian sự kiện
    3.3. Không gian tâm lý


    PHẦN KẾT LUẬN
    TÀI LIỆU THAM KHẢO
    Trả lời · 06-05-2011 lúc 11:15
    #1
  7. Vui lòng Tải xuống để xem tài liệu đầy đủ.
    kiloshare kiloshare is offline (7,334 tài liệu)
    Thành Viên Tích Cực
    5
    Xem 5,233 Mua 8 Bình luận 5

    Gửi bình luận

    ♥ Tải tài liệu

    Đang tải dữ liệu...

    Chia sẻ link hay nhận ngay tiền thưởng
    Thành Viên Tích Cực
    5
    Tham gia ngày
    Mar 2011
    Bài gởi
    7,280
    Tài liệu đã gửi
    7334
    Tài liệu đã bán
    3838
    Mã số thành viên
    195226
    Tài khoản thưởng
    70 đ
  8. Mr BA · Trùm Bựa · 4,684 bài gởi
    PHẦN MỞ ĐẦU

    1. Lí do chọn đề tài:

    Thuở còn học phổ thông dù chỉ đọc được vẻn vẹn bốn truyện ngắn Chí Phèo,
    Đời Thừa, Lão Hạc, Đôi Mắt của Nam Cao in trong các sách giáo khoa nhưng tôi
    rất thích. Tôi thường đọc đi đọc lại nhiều lần những tác phẩm đó mà không biết
    chán. Ngòi bút của Nam Cao dường như lạnh lùng vô cảm khi gọi nhân vật của
    mình là hắn, y, lão, thị nhưng thể hiện tâm trạng, nỗi lòng nhân vật thì sâu sắc, đầy
    vẻ cảm thông, thấu hiểu. Đọc văn Nam Cao, tôi như bị ám ảnh bởi dư vị đắng cay,
    chua xót về những kiếp người đau khổ, bế tắc, bất lực như Hộ, Chí Phèo hay Lão
    Hạc. Có điều kiện tiếp xúc với nhiều tác phẩm của Nam Cao, tôi càng cảm phục tài
    năng của ông hơn, mới biết được sự nhìn nhận cảm tính bấy lâu nay của mình là
    đúng. Bởi các nhà nghiên cứu đã nhìn nhận Nam Cao là một “nhà văn hiện thực phê
    phán xuất sắc nhất”, một “người kết thúc vẻ vang trào lưu văn học hiện thực”
    (Phong Lê).
    Thế nhưng cuộc đời của Nam Cao lại gặp nhiều trắc trở, éo le khi phải sống trong
    những năm tháng đen tối của chế độ thực dân nửa phong kiến, ông luôn phải chống chọi
    với cái đói, cái nợ áo cơm mà không sao thoát ra được. Tài văn của Nam Cao không được
    đánh giá đúng, công nhận, nhiều tác phẩm ông viết ra bị Nhà xuất bản bấy giờ từ chối, rẻ
    rúng. Nhưng trong cái xã hội bóp nghẹt sự sống con người đó, người trí thức “trung
    thực vô ngần”(lời Tô Hoài) ấy luôn nghiêm khắc tự đấu tranh bản thân để vượt mình,
    cố thoát khỏi lối sống tầm thường, nhỏ nhen, khao khát hướng tới “tâm hồn trong sạch
    và mơ tới những cảnh sống, những con người thật đẹp” (Nhật kí Nam Cao, ghi ngày 31-
    8-1950).
    Nam Cao đã ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ, cái tuổi ba mươi sáu(1915-1951) đang
    ở độ “chín” về tư tưởng và tài năng, ra đi khi đang ấp ủ viết một cuốn tiểu thuyết
    lớn về quê hương mình. Ông chỉ kịp để lại một tiểu thuyết duy nhất là Sống mòn
    (1944). Đọc Sống mòn, đầu tiên người đọc sẽ có cảm tưởng như đây là một tiểu
    thuyết tự thuật, một tư liệu quí để hiểu hơn về cuộc đời, về suy nghĩ của nhà văn.
    Nhưng đó chỉ là thứ yếu bởi Sống mòn còn có một ý nghĩa rộng hơn, sâu sắc hơn.
    Tác phẩm không chỉ làm nổi bật cuộc sống nghèo khổ, bế tắc của người trí thức
    trước Cách mạng với những suy nghĩ nhỏ nhen, vặt vãnh mà còn mở rộng ra những
    mảnh đời nghèo khổ, tăm tối của bao người dân lương thiện. Trong quá trình sáng
    tạo tác phẩm, ngòi bút của Nam Cao đã sử dụng linh hoạt yếu tố thời gian và không
    gian nghệ thuật làm cho Sống mòn trở nên đặc sắc và hấp dẫn. Vì vậy, tôi đã chọn
    đề tài “Thời gian và không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Sống mòn của Nam
    Cao” để có dịp tìm hiểu kĩ hơn về nghệ thuật tác phẩm của một nhà văn mà tôi hằng
    yêu thích, mến mộ và cũng là cơ hội để tôi trao dồi, củng cố kiến thức tiện cho việc học
    tập, làm việc và nghiên cứu sau này.
    2. Lịch sử vấn đề:
    “Không gian và thời gian là hai bề của sự vật, là kích thước của sự sống. Nghệ
    thuật biểu hiện sự sống, tái hiện sự sống làm sao không dựng cái khung không gian
    và thời gian lên được để chứa đựng vật, để cho sự vật có chỗ sống, sinh sôi, nảy
    nở”(Huy Cận). Vì vậy, vấn đề thời gian và không gian nghệ thuật trong tác phẩm
    văn chương đã được nhiều nhà nghiên cứu trong nước và trên thế giới quan tâm, đề
    cập đến. Mặc dù chưa có cách lí giải, trình bày thống nhất nhưng các nhà lí luận
    cũng đã đưa ra được hướng nghiên cứu hết sức cần thiết giúp cho người đọc nâng
    cao năng lực chiếm lĩnh các giá trị văn học. Ở đây, người viết xin điểm lại một số
    vấn đề của các nhà nghiên cứu Việt Nam về không gian và thời gian nghệ thuật.
    Lê Ngọc Trà trong Lí luận và Văn học nhận định thời gian và không gian trong văn
    học gồm hai mặt cơ bản: “quan niệm thời gian - không gian của nhà văn và tổ chức thời
    gian và không gian nghệ thuật của tác phẩm”[27; tr.146]. Ông khảo sát thời gian ở hai
    bình diện chính là nhịp độ thời gian và trình tự thời gian. Với quan niệm thời gian và
    không gian trong tác phẩm văn học thống nhất chặt chẽ với nhau nên nhà nghiên cứu
    không đi vào tách biệt làm rõ những cấu trúc và đặc điểm riêng giữa thời gian và không
    gian nghệ thuật.
    Trần Đình Sử là một nhà nghiên cứu có nhiều quan tâm đến thi pháp học và lí luận.
    Trong Một số vấn đề thi pháp học hiện đại, ông đi vào tách biệt giữa thời gian và không
    gian nghệ thuật. Ông đã đưa ra khái niệm và dẫn chứng trong trong một số tác phẩm tiêu
    biểu như truyện họ Hồng Bàng, truyện cổ tích, khúc ngâm và trong thơ . Ngoài ra
    ông còn có nhiều công trình nghiên cứu đến không gian và thời gian nghệ thuật như
    Thi pháp thơ Tố Hữu, Thi pháp Văn học trung đại hay Từ điển thuật ngữ văn học Đây
    là những tư liệu quý đối với người học tập, nghiên cứu lí luận và thi pháp trong đó có
    không gian và thời gian nghệ thuật. Và cả những người yêu thích văn chương, họ cũng có
    hướng để tìm hiểu.
    Bên cạnh đó, Nguyễn Thị Dư Khánh trong Phân tích tác phẩm văn học từ góc độ
    thi pháp nhận định: “không gian và thời gian - khác biệt, gắn với những địa điểm và
    thời gian của nhiều người kể chuyện” [15; tr.43] “các đầu mối của truyện trong những
    trục không gian và thời gian đa phương không tuân theo một trình tự trước sau chặt
    chẽ” [15; tr.44]. Để chứng minh cho nhận định của mình, nhà nghiên cứu đi vào làm rõ
    điểm nhìn khác nhau của người kể chuyện qua một số truyện ngắn, tiểu thuyết tiêu
    biểu.
    Ngoài ra sách Lí luận văn học (chương IX) do Phương Lựu làm chủ biên có đưa
    ra những đặc điểm, biểu hiện riêng của từng loại không gian và thời gian nghệ thuật
    nhưng do không gian và thời gian nghệ thuật chỉ là một mảng nhỏ trong đặc trưng
    nghệ thuật ngôn từ nên nhà nghiên cứu chưa có điều kiên đi sâu, trình bày một cách
    chi tiết.
    Trong Lí luận văn học - Vấn đề và suy ngẫm của Nguyễn Văn Hạnh & Huỳnh Như
    Phương, hai nhà nghiên cứu đi vào làm rõ một số đặc điểm về hình tượng thời gian và
    không gian. Về hình tượng không gian có không gian thiên nhiên, không gian sinh
    hoạt, có thể là không gian mở hay không gian khép, là không gian tĩnh hay động.Về
    hình tượng thời gian có thời gian trần thuật, thời gian tâm lí. Tác giả cũng nhấn mạnh
    “hình tượng thời gian cũng đồng thời biểu lộ cách nhìn của con người về thế giới”[10;
    tr.183].
    Vấn đề thời gian và không gian nghệ thuật trong Sống mòn cũng được nhiều nhà
    nghiên cứu quan tâm, đề cập đến:
    Đỗ Đức Hiểu trong Hai không gian sống trong Sống mòn cho rằng cái không gian
    sống của Thứ là một “không gian o bế, ngày càng thu hẹp”. Theo tác giả, Sống mòn có
    hai không gian nghệ thuật cơ bản là không gian hiện thực và không gian tâm tưởng
    nhưng “Sức năng động của Sống mòn chính là sự xung đột giữa không gian xã hội (“
    xó nhà quê” và ngoại ô Hà Nội nhem nhuốc) và không gian tinh thần, mơ ước,
    không gian hồi tưởng, không gian khát vọng”[3; tr.243] và “ Cái không gian khắc
    nghiệt của xã hội giống như một định mệnh, bám dai dẳng cuộc đời anh[Thứ], chống
    lại cái không gian mơ ước”[3; tr.294]
    Nguyễn Ngọc Thiện với Bút pháp tự sự đặc sắc trong Sống mòn đã phân tích cốt
    truyện, lối kể chuyện, giọng văn cũng có đề cập đến thời gian và không gian nghệ
    thuật. Tác giả cho rằng “Có thể thấy trong Sống mòn luôn luôn bắt gặp sự hòa trộn, đồng
    hiện giữa không gian thời gian quá khứ và hiện tại, sự tồn tại song song giữa các sự kiện
    bên ngoài và dòng liên tưởng, hồi cố, so sánh bên trong thế giới nội tâm nhân vật”[3;
    tr.302]. Tác giả còn phân tích chi tiết điểm nhìn của lối kể chuyện “lúc thì chuyện
    được kể theo điểm nhìn của người kể chuyện, lúc thì chuyện được kể theo điểm nhìn nhân
    vật [3; tr.303].
    Phong Lê trong Đọc lại và lại đọc Sống mòn cũng có đề cập đến không gian và thời
    gian nghệ thuật. Tác giả cho rằng “có ba không gian sống chủ yếu của nhân vật Sống
    mòn. Đó là gian ở nhà trường, gian nhà ông Học và gian nhà của Thứ ở quê” [3; tr.
    323]. Tác giả còn nhận định “ thế giới truyện Sống mòn, cả không gian và thời gian
    như là sự dồn nén, thu nhỏ lại, rồi thu nhỏ nữa. Trong dồn nén mà chứa chất, mà diễn
    biến cho hết mọi cử động, mọi hoạt động, mọi hành động, mọi suy tư và ý nghĩ ”[3;
    tr.327].
    Trong Lí luận văn học - Vấn đề và suy ngẫm, tác giả nghiên cứu hình tượng thời
    gian cũng có đề cập đến Sống mòn: “Những mẫu chuyện vặt vãnh, quẩn quanh
    trong sinh hoạt hàng ngày của những người trí thức được tác giả Sống mòn dẫn dắt trong
    sự kết hợp với trạng thái tâm lí bất lực, tự ti, hoài nghi, bi quan, khinh bạc, sĩ diện hảo
    của các nhân vật, phù hợp với không gian chật hẹp, tù túng. Đó là một thế giới quẩn
    quanh đơn điệu, lặp lại hàng ngày, cũng đơn điệu như cái tâm trạng mệt mỏi của các
    nhân vật [10; tr.182].
    Trần Đăng Xuyền với Thời gian và không gian nghệ thuật Nam Cao in trên Tạp
    chí văn học số 5,1991 và được in lại trong Nam Cao - Về tác gia và tác phẩm. Ông
    đã phân tích các đặc điểm của thời gian nghệ thuật: là thời gian hiện thực hàng
    ngày với những bế tắc, tù túng, lẩn quẩn trong vòng những lo âu thường nhật của
    các nhân vật, là thời gian hồi tưởng của các nhân vật “ có thể trong sáng ấm áp
    nhưng bao giờ cũng gợi lên một nỗi buồn”[18; tr.466] và thời gian tâm trạng “nặng
    nề chậm chạp” gắn liền với tâm trạng đau buồn và bi kịch của nhân vật. Về không
    gian nghệ thuật, ông cho rằng đó là không gian nông thôn “có cái vẻ vắng lặng
    hoang vu của một vùng quê xác xơ vì nghèo đói”[31; tr.473]. Trong đó không gian
    nhà ở, căn buồng là không gian trung tâm cùng sự xuất hiện của không gian suy
    tưởng.
    Nhìn chung, vấn đề thời gian và không gian nghệ thuật trong Sống mòn đã được
    không ít nhà nghiên cứu quan tâm, đề cập đến. Thế nhưng một tác phẩm đặc sắc, tiêu
    biểu của trào lưu hiện thực phê phán như Sống mòn vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra, cần
    làm rõ về thời gian và không gian nghệ thuật.
    3. Mục đích yêu cầu:
    Nguyễn Thị Dư Khánh đã nhận định: “Lí thuyết màu xám, còn cây đời thì mãi
    mãi xanh tươi- câu nói của Goethe thật là chính xác với lí luận và thi pháp tiểu
    thuyết. Bao nhiêu cuộc tranh luận đã diễn ra xung quanh sự đổi mới không ngừng
    của hình thức thể loại cường tráng nhiều biến đổi bậc nhất này. Tình hình này đã
    được Bakhtine nâng lên và phát biểu thành một đặc điểm của thi pháp tiểu thuyết.
    Đó là tính chất “đương đại” ở thì “không hoàn thành” của nó. Còn biết bao nhiêu
    vấn đề cụ thể chưa được giải quyết về mặt lí luận”[15; tr.49] trong đó có không
    gian và thời gian nghệ thuật. Vì vậy mục đích, yêu cầu trước tiên, người viết phải
    đưa ra lí luận chung về thời gian và không gian nghệ thuật của văn chương
    dựa trên tư liệu của các nhà nghiên cứu kết hợp cùng lí lẽ, dẫn chứng từ các tác
    phẩm đã được học và đọc, để phần nào hiểu rõ hơn về vai trò của không gian và
    thời gian nghệ thuật trong việc thể hiện tư tưởng, chủ đề của tác phẩm và dụng ý
    sáng tác của nhà văn.
    Có thể nói, tuy chưa mang tính thống nhất về lí luận chung nhưng vấn đề lí luận
    thời gian và không gian nghệ thuật mà người viết đưa ra sẽ tạo cơ sở cho người viết
    có được sự nhìn nhận ban đầu để đi vào làm rõ yêu cầu rất quan trọng là thời gian
    và không gian nghệ thuật trong tác phẩm Sống mòn. Đó cũng là dịp để người viết hiểu
    rõ hơn về tác phẩm Sống mòn cũng như tập làm quen với công việc nghiên cứu khoa học.
    4. Phạm vi nghiên cứu:
    Thi pháp học là lĩnh vực rất rộng nghiên cứu về nghệ thuật như nghiên cứu tác
    phẩm, thể loại, phong cách ngôn ngữ. Vì vậy để làm rõ vấn đề cần nghiên cứu,
    người viết chỉ đi sâu vào một mảng nhỏ của thi pháp học (và lí luận), cụ thể là một mảng
    đặc trưng của nghệ thuật ngôn từ. Đó là không gian và thời gian nghệ thuật của văn
    chương. Từ phần lí luận về thời gian và không gian nghệ thuật đó, người viết sẽ vận
    dụng vào làm rõ thời gian và không gian nghệ thuật trong một tiểu thuyết cụ thể,
    một tiểu thuyết duy nhất của Nam Cao có tên Sống mòn (hay còn có một tên gọi khác là
    Chết mòn).
    5. Phương pháp nghiên cứu:
    Vấn đề thời gian và không gian nghệ thuật văn chương nói chung cũng như trong
    tiểu thuyết Sống mòn nói riêng đã được nhiều người quan tâm, nghiên cứu nhưng vẫn
    chưa đi đến kết luận chung và mang tính thống nhất. Vì vậy dựa trên tài liệu của các nhà
    nghiên cứu và trên văn bản của tác phẩm Sống mòn, người viết chủ yếu vận dụng phương
    pháp phân tích, tổng hợp để làm rõ vấn đề nghiên cứu của mình. Và các thao tác bình
    luận, giải thích, chứng minh cũng được sử dụng như là các thao tác bổ trợ.
    Bên cạnh đó, để làm rõ vấn đề, người viết cũng vận dụng phương pháp so sánh, đối
    chiếu Sống mòn với một số tác phẩm khác trong nước và thế giới thuộc các trào lưu lãng
    mạn, hiện thực phê phán hay hiện thực Cách mạng trong đó có cả một số tác phẩm khác
    của Nam Cao.
    Ngoài ra, phương pháp thống kê cũng được người viết sử dụng để tiện cho việc
    nghiên cứu và bảo đảm tính khoa học khi có một số chi tiết mang tính nghệ thuật trong
    tác phẩm có sự lặp lại, bản thân chứa ít nhiều dung lượng, mức độ có liên quan đến
    không gian và thời gian nghệ thuật.
    Trả lời · 30-06-2011 lúc 13:17 #2
  9. Trùm Bựa
    4
    Tham gia ngày
    Mar 2009
    Bài gởi
    4,684
    Tài liệu đã gửi
    2526
    Tài liệu đã bán
    10402
    Tài liệu đã mua
    154
    Mã số thành viên
    43
    Tài khoản thưởng
    50 đ
  10. Mr BA · Trùm Bựa · 4,684 bài gởi
    TÀI LIỆU THAM KHẢO


    1. Nguyễn Hoa Bằng - Giáo trình Lí luận văn học - Trường ĐHCT - 2005.
    2. Nam Cao - Chí phèo (tập truyện ngắn) - NXB Văn học - 2001.
    3. Nguyễn Cừ, Lan Hương, Anh Vũ (tổ chức và chọn tuyển) - Nam Cao Sống
    mòn tác phẩm và dư luận- NXB Văn học, 2001.
    4. Nguyễn Đình Chú, Trần Hữu Tá (chủ biên) - Văn học 11, tập I - NXB Giáo dục
    - 2000.
    5. Phan Cự Đệ, Nguyễn Trác, Nguyễn Hoành Khung, Lê Chí Dũng, Hà Văn Đức -
    Văn học Việt Nam (1900-1945) - NXB Giáo Dục - 1999.
    6. Nguyễn Hải Hà - Thi pháp tiểu thuyết L. Tônxtôi - NXB Giáo dục - 1992.
    7. Nguyễn Hải Hà, Lương Duy Trung (chủ biên) - Văn học 12, tập II - NXB Giáo
    dục - 2001.
    8. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) - Từ điển thuật
    ngữ văn học - NXB Giáo dục - 2004.
    9. Lê Thị Tuyết Hạnh - Thời gian nghệ thuật trong cấu trúc văn bản tự sự (Qua
    các truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975 - 1995) - NXB Đại học sư phạm -
    2003.
    10. Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương - Lí luận văn học, vấn đề và suy ngẫm
    - NXB Giáo dục - 1998.
    11. Nguyễn Thái Hòa - Những vấn đề thi pháp của truyện - NXB Giáo dục - 2000.
    12. Nguyễn Công Hoan - Bước đường cùng - NXB Hội nhà văn - 1997.
    13. Nguyên Hồng - Bỉ Vỏ - NXB Văn học Hà Nội - 1995.
    14. Khái Hưng - Hồn bướm mơ tiên - NXB Văn nghệ - 1999.
    15. Nguyễn Thị Dư Khánh - Phân tích tác phẩm văn học từ góc độ thi pháp (Sách
    dùng cho sinh viên Ngữ văn và giáo viên Ngữ văn phổ thông) - NXB Giáo dục.
    16. Phong Lê - Nam Cao, Người kết thúc vẻ vang trào lưu văn học hiện thực - NXB
    Đại học Quốc gia Hà Nội - 2003.
    17. Nhất Linh - Đoạn tuyệt - NXB VĂN NGHỆ Thành phố Hồ Chí Minh - 1994.
    18. Phương Lựu (chủ biên) - Lí luận văn học - NXB Giáo dục - 1997.
    19. Hoàng Như Mai, Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên) - Văn học 12, tập I - NXB
    Giáo dục - 2001.
    20. Hữu Mai - Cao điểm cuối cùng - NXB Văn học - 1984.
    21. Hồ Ngọc Mân - Giảng văn Văn học nước ngoài , tập I - Cần Thơ - 2005.
    22. Tôn Thảo Miên (tuyển chọn) - Truyện ngắn Thạch Lam, tác phẩm và dư luận -
    NXB Văn học - 2002.
    23. Tuyển tập Vũ Trọng Phụng, tập I - NXB Văn học - 1996.
    24. Trần Đình Sử - Một số vấn đề thi pháp học hiện đại , Tài liệu BDTX chu kì
    1992 cho giáo viên Văn cấp 2 phổ thông - NXB Hà Nội - 1993.
    25. Trần Đình Sử - Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam - NXB Giáo
    dục - 1999.
    26. Trần Đình Sử - Thi pháp thơ Tố Hữu - NXB Giáo dục - 1995.
    27. Lê Ngọc Trà - Lí luận và văn học - NXB trẻ thành phố Hồ Chí Minh - 1990.
    28. Nhật Tiến - Thềm hoang - NXB Văn học - 2000.
    29. Bùi Văn Tiếng - Thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng - NXB
    Văn hóa - 1997.
    30. Ngô Tất Tố - Tắt đèn - NXB Văn học Hà Nội - 1997.
    31. Bích Thu (tuyển chọn và giới thiệu) - Nam Cao về tác gia và tác phẩm - NXB
    Văn học - 2007.
    32. Lê Thu Yến (chủ biên) - Văn học Việt Nam văn học trung đại những công trình
    nghiên cứu - NXB Giáo Dục.
    Trả lời · 30-06-2011 lúc 13:17 #3
  11. Trùm Bựa
    4
    Tham gia ngày
    Mar 2009
    Bài gởi
    4,684
    Tài liệu đã gửi
    2526
    Tài liệu đã bán
    10402
    Tài liệu đã mua
    154
    Mã số thành viên
    43
    Tài khoản thưởng
    50 đ
  12. M
    meomap2712 · Thành Viên KiloBooks · 1 bài gởi
    Đúng tài liệu mình cần, cỡ nào cũng mua
    Trả lời · 08-03-2013 lúc 17:49 #4
  13. M
    Thành Viên KiloBooks
    0
    Tham gia ngày
    Sep 2011
    Bài gởi
    1
    Tài liệu đã mua
    1
    Mã số thành viên
    380625
    Tài khoản thưởng
    0 đ
  14. I
    ineedyou91haui · Thành Viên KiloBooks · 2 bài gởi
    thanks chủ thớt nhiều
    Trả lời · 06-04-2013 lúc 10:28 #5
  15. I
    Thành Viên KiloBooks
    0
    Tham gia ngày
    May 2012
    Bài gởi
    2
    Tài liệu đã mua
    2
    Mã số thành viên
    619514
    Tài khoản thưởng
    0 đ
  16. L
    liverpudlianhp · Thành Viên KiloBooks · 1 bài gởi
    Kilobooks toàn tài liệu độc
    Trả lời · 15-04-2013 lúc 11:13 #6
  17. L
    Thành Viên KiloBooks
    0
    Tham gia ngày
    Feb 2013
    Bài gởi
    1
    Tài liệu đã mua
    1
    Mã số thành viên
    901557
    Tài khoản thưởng
    0 đ
social Thư viện điện tử KiloBooks

Các từ khoá được tìm kiếm:

phan tich dac diem khong gian va thoi nghe thuat trong hai dua tre

Khong gian va thoi gian trong hai dua tre

dac trung khong gian nghe thuat

http:www.kilobooks.comthoi-gian-va-khong-gian-nghe-thuat-trong-tieu-thuyet-song-mon-cua-nam-cao-53548

thoi gian nghe trong truyen Lao hac

thoi gian nghê thuât trong tp lao hac

thoi gian tran thuat truyen lao hac

tieu luan thoi gian nghe thuat trong tac pham

thoi gian va khong gian nghe thuat

thoi gian tran thuat trong truyen ngan lao hac

không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học

li thuyet ve khong gian.nghe thuat

khong gian va thoi gian nghe thuat trong tac pham chi pheo cua nam cao

thoi gian tran thuat trong chi pheo

thoi gian duoc tran thuat trong chi pheo

thoi gian nghe thuat trong truyen ngan hai đua tre

hinh tuong khong gian va thoi gian nghe thuat trong tieu thuyet song mon

Đe văn lop 11: so sanh bai hai đua tre voi bai tat den va lao hac

Từ khóa (tags) Thêm / Sửa từ khóa (tags)