Tìm kiếm
Đang tải khung tìm kiếm
Chia sẻ link hay nhận ngay tiền thưởng

    THẠC SỸ Đánh giá vật liệu ngô nếp địa phương và nhập nội phục vụ chọn tạo giống ngô nếp cho vùng đồng bằng Sông Hồng

    ocnhoi88 ocnhoi88 is offline (4,784 tài liệu)
    Thành Viên Tích Cực
    4
  1. Gửi tài liệu
  2. Bình luận
  3. Chia sẻ
  4. Thông tin
  5. Công cụ
  6. Luận văn dài 96 trang:
    1. MỞ ĐẦU

    1.1. Đặt vấn đề
    Porcher Michel H và cộng sự (2004) cho rằng ngô nếp đã được phát hiện ở Trung Quốc từ năm 1909. Ngô nếp biểu hiện những tính trạng khác thường và các nhà tạo giống ở Hoa Kỳ một thời gian dài sử dụng các tính trạng này làm chỉ thị nhận biết các gen ẩn trong các chương trình chọn tạo giống ngô. Năm 1922 các nhà nghiên cứu đã phát hiện nội nhũ của ngô nếp chỉ chứa amilopectin và không có amilose, đối ngược với các giống ngô khác. Đến tận đại chiến thế giới thứ II, nguồn amilopectin chính được lấy từ sắn nhưng khi người Nhật cung cấp dòng ngô nếp cho sản xuất thì thế giới sử dụng chủ yếu amliopectin từ ngô nếp.
    Cây ngô nếp Zeamay L subsp ceratina Kulesh có nội nhũ chứa gần 100% amilopectin là dạng tinh bột có cấu trúc mạch nhánh có giá trị sử dụng cao trong công nghiệp chế biến. Hạt ngô nếp giàu dinh dưỡng mà ngô thường,ngô đường,ngô rau có hàm lượng thấp hơn như lizin, tryptophan và protein [1] . Cây ngô nếp đem lại hiệu quả cao cho sản xuất vì có thể sử dụng vào nhiều mục đích như làm lương thực, làm ngô quà, do vậy cần ưu tiên phát triển các giống ngô thực phẩm ngắn ngày, cho thu nhập cao bên cạnh ngô ngọt, ngô rau. Ngô nếp có thể trồng gối vụ, rải vụ và không chịu áp lực bởi thời vụ, hiệu quả cao và phục vụ phát triển chăn nuôi.[3]
    Nhóm ngô nếp hiện có trong sản xuất ở Việt Nam là những giống ngắn ngày, thời gian sinh trưởng 70 - 85 ngày , bao gồm VN2, MX2,MX4 và nếp Nù N1. Năng suất hạt khô có thể đạt từ 30- 45 tạ/ha, bắp tươi từ 7-8 tấn/ha; khả năng chống chịu hạn, chua, phèn, đổ khá, ít nhiễm sâu bệnh .[3]. Chính vì thế diện tích trồng ngô nếp ở nước ta thời gian qua tăng khá nhanh,chiếm xấp xỉ 10% diện tích trồng ngô của cả nước, chủ yếu là giống thụ phấn tự do và một số giống lai không quy ước. Như vậy diện tích trồng ngô nhóm chất lượng nói chung và ngô nếp nói riêng còn hạn chế ở nước ta.[4]
    Trong những năm qua công tác chọn tạo giống ngô ưu thế lai ở nước ta tập trung tạo giống ngô thường, nhóm ngô thực phẩm, ngô quà còn hạn chế. Vì vậy chọn tạo giống ngô nếp ưu thế lai là nhu cầu của thực tế sản xuất, góp phần làm phong phú thêm bộ giống ngô trong cơ cấu sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế cho người trồng ngô của vùng đồng bằng sông Hồng chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá vật liệu ngô nếp địa phương và nhập nội phục vụ chọn tạo giống ngô nếp cho vùng đồng bằng Sông Hồng
    1.2. Mục đích và yêu cầu
    1.2.1. Mục đích
    Đánh giá nguồn vật liệu 8 dòng ngô nếp tự phối địa phương và đánh giá khả năng kết hợp nhằm xác định những dòng ngô nếp có những đặc điểm, tính trạng tốt và có KNKH phục vụ công tác chọn tạo giống ngô nếp.
    1.2.2. Yêu cầu
    - Đánh giá sinh trưởng, phát triển, khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh của các dòng .
    - Đánh giá một số đặc điểm nông sinh học của các dòng phục vụ công tác tạo giống ngô nếp.
    - Nhận biết được các tính trạng và đặc điểm tốt của các dòng ngô.
    - Đánh giá khả năng kết hợp của các dòng ngô nếp tự phối từ các giống ngô nếp địa phương.



    2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

    2.1 . Nguồn gốc, phân loại cây ngô
    Cây ngô ( Zea mays) thuộc họ Hoà thảo Poaceae. Cho tới nay có nhiều giả thuyết về nguồn gốc cây ngô:
    - Là con lai giữa Teosinte và thành viên không rõ thuộc tộc Androponeae
    - Là con lai nhị bội tự nhiên giữa các loài á châu thuộc tộc Maydeae và Androponeae
    - Là con lai giữa ngô bọc , Teosinte và Tripsacum
    - Là con lai của ngô bọc Nam mỹ và Tripsacum Trung mỹ với Teosinte
    - Ngô, Teosinte và Tripsacum bắt nguồn riêng rẽ từ một dạng tổ tiên chung
    - Teosinte là nguồn gốc của ngô sau một hoặc nhiều đột biến.
    Như vậy cho đến nay về nguồn gốc của cây ngô vẫn chưa được sáng tỏ.
    Theo bảng phân loại của Sturtevant đề xuất năm 1899 dựa trên các đặc điểm hình thái của nội nhũ trong hạt, cây ngô được phân thành các loài phụ sau đây:
    1- Ssp amilaceae – ngô bột
    2- Ssp indentata – ngô răng ngựa
    3- Ssp indutata- ngô đá rắn: ngô tẻ: nhóm ngô này phân bố rộng rãi trong trồng trọt.
    4- Ssp everta – ngô nổ
    5- Ssp saccharta – ngô đường

    6- Ssp ceratina: ngô nếp: nội nhũ hạt chủ yếu là tinh bột amilopectin ( chiếm 75%)
    7- Ssp tunicata – ngô vảy, ngô bọc: là một dạng ngô hiếm, hạt bọc trong các mày, các vẩy hạt, không có ý nghĩa sản xuất.
    2.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất ngô trong nước
    Ở Việt Nam cây ngô được biết đến từ rất sớm. Trong rất nhiều năm ngô là lương thực chính của đồng bào vùng cao. Với người dân đồng bằng ngô chiếm vị trí thứ hai sau cây lúa nước. Cùng với cây lúa, cây ngô đã đi vào nền văn hoá Việt Nam một cách tự nhiên góp phần tạo nên một nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc. Ngày nay cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, giá trị của cây ngô ngày càng được nâng lên.
    Cây ngô có mặt ở hầu khắp đất nước Việt Nam nhưng tập trung chủ yếu ở miền Bắc, miền Trung và Tây Nguyên. Công tác điều tra, thu thập nguồn vật liệu ngô địa phương được tiến hành từ những năm 60. Các nhà nghiên cứu đi đến thống nhất là : ngô địa phương ở Việt Nam tập trung chủ yếu vào hai loài phụ là Đá rắn ( Zeamays L. Indurata Sturt) và ngô nếp ( Zeamays L Ceratina Kulesh). [4]
    Người Việt nam biết trồng ngô từ thế kỷ 17, nhưng việc nghiên cứu chọn tạo giống ngô một cách có hệ thống chỉ mới bắt đầu từ những năm 70 của thế kỷ 20. Các chương trình chọn tạo giống ngô ở Việt Nam được chia làm 3 giai đoạn: giai đoạn thu thập nguồn gen, giai đoạn chọn tạo và nhập nội các giống thụ phấn tự do, giai đoạn tạo các giống ngô lai quy ước.
    Theo Trần Hồng Uy [5] giai đoạn đầu của các chương trình chọn tạo giống ngô là xây dựng quỹ gen về ngô mang tính đặc thù ở Việt Nam. Đó là: các giống ngô thích nghi với điều kiện nhiệt đới ẩm, ngày ngắn. Được sự giúp đỡ của các Viện nghiên cứu ngô nổi tiếng như CIMMYT, VIR, chương trình nghiên cứu đã thu thập, phân loại và xây dựng được quỹ gen ngô của Việt Nam tập trung vào những quần thể, những giống ngô quý của các địa phương, những nguồn gen nhiệt đới, đặc biệt là ở những nước có cùng vĩ độ. Và việc sử dụng những nguồn gen từ nguồn sinh thái khác không dùng trực tiếp mà phải dùng gián tiếp.
    Cũng theo Trần Hồng Uy [5] chương trình tạo giống ngô phải qua 2 giai đoạn:
    Giai đoạn một ( 15-20 năm) ưu tiên tạo giống ngô thụ phấn tự do làm nền tảng cho chương trình tạo giống ngô lai , giai đoạn sau sẽ tập trung vào tạo giống ngô lai. Cả hai bước này đều được bắt đầu từ những năm 72- 73 và kéo dài đến năm 1990.
    Các giống ngô thụ phấn tự do ( hay thụ phấn mở) là nhóm giống trong quá trình sản xuất hạt chúng thụ phấn không có sự can thiệp của con người. Nhóm thụ phấn tự do gồm có : các giống địa phương, các giống thụ phấn tự do cải tiến [4]. Trong quá trình trồng ngô tương đối lâu đời ở nước ta, dưới ảnh hưởng của chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo, ở những vùng nhất định đã hình thành các giống – quần thể thích nghi với điều kiện địa phương , các giống gié, xiêm , nếp vàng, nếp trắng [7]. Các giống địa phương đều có khả năng thích nghi lớn và có khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh. Đa số các dòng ngô được tạo ra từ vật liệu ban đầu là các giống địa phương có khả năng chịu hạn, chịu lạnh cao, có khả năng chống chịu sâu bệnh và chất lượng tốt Ngô địa phương là nguồn vật liệu khởi đầu cho công tác chọn tạo giống ngô trên cơ sở ưu thế lai [4]
    Nhóm ngô thụ phấn tự do gồm các giống tổng hợp và hỗn hợp có nền di truyền rộng, có tiềm năng năng suất cao hơn các giống ngô địa phương.
    Trong giai đoạn này chương trình nghiên cứu ngô Việt Nam đã nhập nội và chọn tạo hàng loạt giống ngô có năng suất cao, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội lúc bấy giờ. Điển hình có các giống TH2A, TH2B, VM1, TSB2, MSB49,TSB1, CV1, TSB3, Q2. Những giống này là giống chủ lực gieo trồng trên toàn quốc thời kỳ 1976 -1990. Diện tích trồng ngô thụ phấn tự do thời điểm cao đạt 50% diện tích gieo trồng cả nước.
    Thành công lớn nhất trong công tác chọn tạo giống ngô là sử dụng hiệu ứng ưu thế lai ở ngô. Ngô lai là giống được tạo ra từ hai hay nhiều dòng thuần khác nhau. ưu điểm nổi bật của ngô lai là độ đồng đều cao, lợi dụng được ưu thế lai của con lai F1 nên nó cho năng suất cao nhất trong các nhóm giống ngô [4].
    Theo Trần Hồng Uy, các tổ chức quốc tế đánh giá chương trình nghiên cứu và phát triển ngô lai của nước ta phát triển nhanh nhất thế giới. Trong vòng 12 năm qua tổng sản lượng của Việt Nam tăng 4 lần, năng suất bình quân tăng 2 lần [17].
    Trả lời · 07-03-2011 lúc 02:45
    #1
  7. Vui lòng Tải xuống để xem tài liệu đầy đủ.
    ocnhoi88 ocnhoi88 is offline (4,784 tài liệu)
    Thành Viên Tích Cực
    4
    Xem 1,030 Mua 0 Bình luận 0

    Gửi bình luận

    ♥ Tải tài liệu

    Đang tải dữ liệu...

    Chia sẻ link hay nhận ngay tiền thưởng
    Thành Viên Tích Cực
    4
    Tham gia ngày
    Jan 2011
    Bài gởi
    4,918
    Tài liệu đã gửi
    4784
    Tài liệu đã bán
    3011
    Tài liệu đã mua
    215
    Mã số thành viên
    109553
    Tài khoản thưởng
    0 đ

Từ khóa (tags) Thêm / Sửa từ khóa (tags)