PDA

Xem tài liệu đầy đủ : Tài Liệu Tìm hiểu tổ chức chính quyền Đàng Trong (1558 - 1776)



anhhaituan
10-12-2010, 13:43
Chương 1


Đại Việt thế kỉ XVI

1.1. Cục diện Nam – Bắc triều
1.2. Trịnh – Nguyễn phân liệt
1.2.1. Nguyên nhân của cuộc chiến
Sau khi Nguyễn Kim bị hàng tướng nhà MạcDương Chấp Nhất đầu độc chết năm 1545, mọi quyền hành rơi vào tay con rể là Trịnh Kiểm. Trịnh Kiểm bắt đầu tước đoạt quyền thế của họ Nguyễn, hãm hại con đầu của Nguyễn Kim là Nguyễn Uông. Đề phòng mối nguy hại từ Trịnh Kiểm, Nguyễn Hoàng xin cho được vào trấn thủ vùng Thuận Hóa.
Năm 1558, Nguyễn Hoàng được vua Lê Anh Tông cho vào trấn thủ ở xứ Thuận Hóa, từ đó cơ nghiệp riêng của họ Nguyễn bắt đầu được gây dựng. và tất cả quá trình này được tiến hành một cách âm thầm và bí mật.
Năm 1570, sau khi Trịnh Kiểm mất, Trịnh Tùng lên nắm quyền, đã cho quân vào đánh úp Nguyễn Hoàng nhằm tiêu diệt lực lượng của họ Nguyễn. Nhưng bằng mưu lược khôn khéo và tài trí của mình, Nguyễn Hoàng đã đẩy lùi được âm mưu này. Sau hành động này, mâu thuẫn giữa hai họ Trịnh – Nguyễn lên cao, bên ngoài thì bằng mặt phò tá vua Lê nhưng bên trong đã ngầm chuẩn bị lực lượng riêng cho mình.
Năm 1592, về cơ bản Nam triều thắng Bắc triều. Năm 1593, vua Lê trở về Thăng Long, Nguyễn Hoàng phải ra chầu, chúc mừng thắng lợivà mang sổ sách quân dân, binh lương kho tàng dâng lên vua Lê, được sắc phong tước Quốc Công. Nguyễn Hoàng ở lại giúp triều đình đánh dẹp các tàn dư của họ Mạc. Trịnh Tùng muốn mượn tay của quân Mạc để tiêu diệt Nguyễn Hoàng. Ý đồ của họ Trịnh muốn trừ khử từ trước đến đây được thể hiện rõ ràng. Sau khi Nguyễn Hoàng đẩy lùi được tàn quân Mạc, Trịnh Tùng muốn giữ chân cậu mình ở đất Bắc Hà. Năm 1600, Trịnh Tùng tự phong mình làm Bình An Vương và đặt phủ riêng, thao túng mọi quyền hành lấn át vua Lê. Nguyễn Hoàng nhận thấy họa sát thân đang đến gần,xui sử các tướng Phan Ngạn, Ngô Đình Nga, Bùi Văn Khuê đang đóng quân ở cửa Đại An tạo phản, xin cầm quân đi đánh rồi giả vờ thua, theo đường biển chạy về Thuận Hóa. Sự rạn nứt mới trong quan hệ với triều đình Thăng Long và họ Trịnh, bất chấp việc làm của Trịnh Tùng, cuộc tranh giành quyền lực trước giờ được tiến hành một cách ngấm ngầm, nay có thể trở thành cuộc đối đầu công khai, tình hình chính trị căng thẳng lên đến đỉnh điểm khi Nguyễn Hoàng ra đi. Chiến tranh có thể xảy ra bất cứ khi nào, Nguyễn Hoàng đã khôn khéo tránh sự đụng độ đao binh và xoa dịu mâu thuẫn với việc gả Ngọc Tú cho Trịnh Tráng (cô lấy cháu), và hằng năm nộp thuế đều đặn.VềÁi Tử, Nguyễn Hoàng dời dinh sang phía Đông, bắt đầu thực hiện một chính sách cai trị mới, tách khỏi ràng buộc của họ Trịnh.
Năm 1614, Nguyễn Phúc Nguyên tự ý bổ dụng các chức quan ở Thuận Hóa, thải hồi các quan lại do vua Lê, chúa Trịnh phong trước đây. Chúa Nguyễn đã có ý ra mặt công khai đối đầu với họ Trịnh. Năm 1620, họ Trịnh cho quân vào Nam nhằm lật đổ Phúc Nguyên, dựng Phúc Anh lên, nhưng không thành. Họ Nguyễn lấy cớ này không nộp thuếnữa, mâu thuẫn giữa hai họ Trịnh – Nguyễn trở nên cẳng thẳng hơn. Sau khi lên nối nghiệp, chúa Trịnh Tráng (1623 – 1657) có ý đưa quân vào Nam đánh họ Nguyễn. Năm 1627, Trịnh Tráng lấy cớ họ Nguyễn không nộp thuế mà phát binh, chiến tranh Trịnh – Nguyễn xảy ra.
Kể từ đó họ Trịnh và họ Nguyễn thường xuyên đem quân đánh nhau, gây biết bao nhiêu đau thương, tang tóc cho nhân dân hai miền, làm cho đất nước chìm trong cuộc nội chiến đẫm máu và bị chia cắt kéo dài hơn một thế kỷ.
1.2.2. Hậu quả cuộc chiến tranh cát cứ của các thế lực phong kiến Trịnh – Nguyễn đối với lịch sử dân tộc
Về phần họ Nguyễn, chúa Nguyễn tuyên bố rằng họ Trịnh đã giết vua Anh Tông (1573), Kính Tông (1619), đó là tội đại nghịch, đã tước hết quyền bính của nhà vua, từng bước biến vua Lê trở thành bù nhìn, việc năm 1556 vua Trung Tông mất không có con nối ngôi, Trịnh Kiểm đã có ý đồ thay thế nhà Lê, nhưng một phần vì cuộc chiến Nam – Bắc triều, phần khác Trịnh Kiểm cho đi hỏi Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm xem liệu có thuận chăng, Trạng trình phán rằng nên tìm “thóc cũ mà gieo”, vì thế mà họ Trịnh không giám tiếm vị. Nhưng cũng từ đây, họ Trịnh nắm toàn bộ binh quyền trong tay, vì cuộc chiến mà đã không ngừng tăng thuế khiến trăm họ phải lầm than. Do đó, họ Nguyễn tự cho mình có bổn phận diệt Trịnh để phò vua Lê và nhân dân khỏi ách thống trị của họ Trịnh.
Về phần họ Trịnh thì cho rằng, họ Nguyễn đã phản bội nhà Lê: khi Nguyễn Hoàng được trấn thủ Thuận Hóa, bắt đầu có ý định xây dựng cơ nghiệp riêng, khi lực lượng đủ mạnh thì ra mặt chống đối, như: bãi nhiệm các quan lại do vua Lê, chúa Trịnh bổ nhiệm ở Thuận Hóa, tự cho người của họ Nguyễn nắm giữ chính quyền, không chịu nộp thuế cho triều đình, lại còn xâm lấn đất của nhà vua. Vì vậy mà họ Trịnh cũng cho mình bổn phận, trách nhiệm với nhà vua và nhân dân mà đánh kẻ phản thần để mang giang sơn về một mối cho vua Lê.
Đây cũng là vẻ bề ngoài của hai họ, thực chất các chúa Nguyễn cho rằng vị thủy tổ nhà mình, Triệu tổ Nguyễn Kim mới là người khôi phục nhà Lê, còn thủy tổ họ Trịnh là Trịnh Kiểm là một người ti tiểu, phục vụ dưới trướng cha ông mình, đươc cha ông mình cất nhắc lên, vậy vị trí họ Trịnh bên cạnh vua Lê đáng lẽ phải thuộc về họ Nguyễn mới phải. Họ Trịnh nắm hết quốc quyền, khi làm chúa đã được phong tước vương, còn các chúa Nguyễn thì chỉ được phong tước Quận công, cao lắm thì được tước Quốc công, và khi chết như chúa Nguyễn Hoàng cũng chỉ được phong tặng tước Công là cùng. Chúa Trịnh thấy chúa Nguyễn ngày càng mạnh lên, đất đai được mở rộng, thành một nước độc lập, cũng là mối lo về sau. Không biết khi họ Nguyễn thay họ Trịnh thì có làm khác họ Trịnh đã làm hay không hay cũng như vậy thì chưa biết, còn chúa Trịnh muốn tiêu diệt chúa Nguyễn để lãnh thổ được thống nhất và tránh được nạn chia cắt lâu dài, chấm dứt họa về sau, e cũng đúng.
Các nguyên do trên đã khiến hai họ từ bất đồng gia đình, dòng họ dẫn đến mâu thuẫn của dân tộc, của đất nước, cuộc chiến 45 năm cũng là hệ quả của mâu thuẫn này. Cuộc chiến kết thúc cũng chưa thể giải quyết được mâu thuẩn lớn này. Kết cục, vua Lê chúa Trịnh phải mặc nhiên chấp nhận sự li khai, thành lập một chính quyền riêng của họ Nguyễn ở phía Nam, trở thành một giang sơn riêng của họ Nguyễn.


Chương 2


Chính quyền Đàng Trong

2.1. Sự thiết lập chính quyền Thuận Hóa
2.1.1. Nguyên nhân Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa
Sự chuyên quyền của Trịnh Kiểm ngày càng lớn, dù vẫn tôn vị vua Lê. Các mưu sĩ khuyên Trịnh Kiểm nên trừ Nguyễn Hoàng đi. Nguyễn Hoàng biết được, lo sợ, cho người đi hỏi Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm – là người rất giỏi thuật số. Trạng Trình ngâm câu “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân” (một giải núi ngang có thể dung thân muôn đời)[5] (http://kilobooks.com/newthread.php?f=16#_ftn5). Sứ giả về tâu, Nguyễn Hoàng hiểu được ý, nói với chị của mình là Ngọc Bảo – vợ của Trịnh Kiểm, nhờ chị xin cho vào trấn thủ vùng đất Thuận Hóa. Trịnh Kiểm tâu lên vua Lê để cho Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa, ông cho rằng: “Thuận Hóa là nơi quan trọng, quân và của do đấy mà ra, buổi quốc sơ nhờ đấy mà nên nghiệp lớn. Nay lòng dân hãy còn giáo giở, nhiều kẻ vượt biển đi theo họ Mạc, sợ có kẻ dẫn giặc về cướp, ví không được tướng tài vỗ yên thì không thể xong. Đoan Quận Công là con nhà tướng, có tài trí mưu lược, có thể sai đi trấn ở đấy để cùng với tướng trấn thủ Quảng Nam cùng nhau giúp sức thì mới đỡ lo đến miền Nam” [6] (http://kilobooks.com/newthread.php?f=16#_ftn6). Tháng 11 năm 1558, Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa, vua Lê trao cho “cờ tiết trấn thủ”. Đến Thuận Hóa Nguyễn Hoàng đóng dinh ở xã Ái Tử huyện Vũ Xương.
Vào Thuận Hóa nhằm tránh sự nghi ngờ của Trịnh Kiểm, tìm chốn dung thân, tránh tham vọng quyền lực từ Trịnh Kiểm.
Thuận Hóa là vùng đất nhiều biến loạn, nơi tập hợp của các dư đảng họ Mạc, nhiều cuộc nổi dậy chống phá nhà Lê, là một lãnh địa chết đối với Nguyễn Hoàng. Một mặt, Trịnh Kiểm mượn tay các thế lực đó để giết Nguyễn Hoàng, tránh tiếng giết em vợ, xem động tĩnh rồi sau này sẽ trừ khử. Mặt khác, Trịnh Kiểm buộc phải chấp nhận lời đề nghị từ Ngọc Bảo, vì công cuộc trung hưng nhà Lê đang diễn ra quyết liệt, giành được sự cân bằng chiến lược với quân Mạc, việc Lãng Quận công Nguyễn Uông bị sát hại đã gây chia rẽ, xao động trong nội bộ Nam triều. Nguyễn Hoàng là con trai cuối cùng của Nguyễn Kim – người khởi xướng sự nghiệp trung hưng nhà Lê, Trịnh Kiểm có hành động tương tự Nguyễn Uông sẽ khó tránh khỏi sự suy yếu của Nam triều, do mâu thuẫn giữa hai họ.
Thuận Hóa là vùng giữa Tây Đô và Quảng Nam do Bùi Tá Hán đang trấn thủ, Trịnh Kiểm muốn để Nguyễn Hoàng và Bùi Tá Hán tự quản chế lẫn nhau, dễ bề chi phối.
Sự bổ nhiệm của triều đình bị lu mờ đi trước lời khuyên của Nguyễn Bỉnh Khiêm cho Nguyễn Hoàng – nó chỉ là thủ tục để hoàn tất một công việc, khi nhận được lời “tư vấn” của Trạng trình, Nguyễn Hoàng đã bắt đầu nuôi ý chí và định hướng về một chốn riêng cho mình, câu nói của Nguyễn Bỉnh Khiêm có ý nghĩa đến sự hình thành tư tưởng lớn của Nguyễn Hoàng. Năm 1558, Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa là do chính bản thân ông quyết định, còn Trịnh Kiểm là tác nhân tích cực cho việc làm đó.[7] (http://kilobooks.com/newthread.php?f=16#_ftn7)
Hơn 10 năm cai quản vùng đất Thuận Hóa “chúa vỗ về quân dân, thu phục hào kiệt, nhẹ xâu thuế, dân chúng vui, phục, thường gọi là chúa Tiên”. Nguyễn Hoàng biến một vùng đất hoang vắng, chưa phát triển thành một vùng đất màu mỡ, trù phú, hưng thịnh, dân lấy đó làm mừng, dẹp yên được các thế lực ủng hộ nhà Mạc, tạo mọi điều kiện thuận lợi chiêu mộ dân khai hoang lập ấp. Hằng năm vẫn triều cống điều đặn, không thiếu. Mỗi lần tiến cống 400 cân bạc, 500 tấm lụa.[8] (http://kilobooks.com/newthread.php?f=16#_ftn8)
Năm 1593, vua Lê trở về Thăng Long, Nguyễn Hoàng phải ra chầu, chúc mừng thắng lợi mang sổ sách quân dân, binh lương kho tàng dâng lên vua Lê, được sắc phong tước Quốc Công. Nguyễn Hoàng ở lại giúp triều đình đánh dẹp các tàn dư của họ Mạc, lập được nhiều huân công. Năm 1600, Nguyễn Hoàng về Ái Tử dời dinh sang phía Đông, bắt đầu thực hiện một chính sách cai trị mới, tách khỏi sụ ràng buộc của họ Trịnh. Lần này, Nguyễn Hoàng vào Thuận Quảng do có mâu thuẫn với các tướng lĩnh trong triều. Vốn là đại công thần có đóng góp rất lớn cho công cuộc trung hưng nhà Lê, những năm ở Đông Đô, Nguyễn Hoàng không thấy Trịnh Tùng nói đến chuyện để ông trở về Trấn, ông thấy Trịnh Tùng đối với mình không thân thiện nữa, lại ghen ghét, ganh tỵ về những chiến công của mình, và việc Trịnh Tùng xưng vương thế tục đã tõ rõ mưu đồ tiếm quyền vua Lê, coi vua Lê chỉ là bù nhìn, coi như Trịnh Tùng đã làm vua nhưng chỉ xưng vương, điều này khiến Nguyễn Hoàng phải rời xa kinh đô, nuôi chí mở cõi để xây dựng cở nghiệp họ Nguyễn.
Những năm cuối đời, Nguyễn Hoàng tiếp tục gây dựng cơ nghiệp, biến vùng đất Thuận Quảng trở thành vương quốc riêng của mình.Trước lúc lâm chung, Nguyễn Hoàng đã căn dặn Nguyễn Phúc Nguyên, rằng: “Đất Thuận Quảng phía Bắc có núi Hoành Sơn, sông Linh Giang (sông Gianh) hiểm trở, phía Nam có núi Hải Vân, núi Thạch Bi vững bền; núi sinh vàng, sắt, biển có cá, muối, thật là đất dụng võ của những kẻ anh hùng. Nếu biết dạy dân, luyện binh để chống chọi với họ Trịnh thì đủ xây dựng cơ nghiệp muôn đời. Nếu thế lực không địch được thì cố giữ đất đai để chờ thời cơ, chớ đừng bỏ hỏng lời dặn của ta”[9] (http://kilobooks.com/newthread.php?f=16#_ftn9). Tháng 6 năm 1613, chúa bệnh và qua đời, ở ngôi 56 năm, thọ 89 tuổi. Nguyễn Phúc Nguyên con thứ 6 của Nguyễn Hoàng lên kế vị, tiếp tục theo đuổi những chính sách mạnh mẽ hơn, và là vị chúa đầu tiên tiến hành cuộc nội chiến 45 với Thăng Long.
2.1.2. Chính quyền Thuận Hóa
Năm 1614, Nguyễn Phúc Nguyên tự ý bổ dụng các chức quan ở Thuận Hóa, thải hồi các quan lại do vua Lê, chúa Trịnh phong trước đây, bắt đầu xây dựng một chính quyền của riêng họ Nguyễn ở phương Nam. Chúa Nguyễn đã có ý ra mặt công khai đối đầu với họ Trịnh và tiếp tục kháng cự với họ Trịnh trong những vấn đề xung quanh vua Lê, cũng như xuất phát từ công lao khôi phục vương triều Lê của hai họ. Năm 1620, họ Trịnh cho quân vào Nam nhằm lật đổ Phúc Nguyên, dựng Phúc Anh lên, nhưng không thành. Họ Nguyễn lấy cớ này không nộp thuếnữa, mâu thuẫn giữa hai họ Trịnh – Nguyễn trở nên cẳng thẳng hơn, họ Nguyễn ở Thuận Hóa tích cực hoàn bị một chính quyền đảm bảo sự vững vàng của mình ở đây, họ Nguyễn phải nhanh chóng xây dựng một chính quyền để có thể làm chổ dựa cho những nhân dân quanh vùng và có lý do để chuẩn bị một lực lượng đối đầu với quân Trịnh. Sau khi lên nối nghiệp, chúa Trịnh Tráng (1623 – 1657) có ý đưa quân vào Nam đánh họ Nguyễn nhưng chưa tạo được cớ xuất binh, dự trù mãi họ Trịnh mới có thể Nam chinh, đánh phạt họ Nguyễn.. Năm 1627, Trịnh Tráng lấy cớ họ Nguyễn không nộp thuế mà phát binh, chiến tranh Trịnh – Nguyễn xảy ra.
Kể từ đó họ Trịnh và họ Nguyễn thường xuyên đem quân đánh nhau, gây biết bao nhiêu đau thương, tang tóc cho nhân dân hai miền, làm cho đất nước chìm trong cuộc nội chiến đẫm máu và bị chia cắt kéo dài hơn một thế kỷ. Trải qua 45 năm chiến đấu mệt mỏi không bên nào đạt được mục đích là đánh đổ một trong hai họ Nguyễn – Trịnh. Tuy vậy nhưng thực chất thì họ Nguyễn đã chiến thắng khi đã bảo vệ được chính quyền của mình và sau cuộc chiến là một quá trình dài xây dựng, củng cố và phát triển cơ nghiệp Chúa của họ Nguyễn ở Đàng Trong.
2.2. Tổ chức chính quyền chúa Nguyễn
2.2.1. Chính quyền Đàng Trong 1600 – 1744
2.2.1.1. Chính quyền trung ương
Với ý đồ tách Đàng trong ra khỏi sự thống trị của vua Lê - chúa Trịnh, Nguyễn Hoàng và những người nối nghiệp một mặt củng cố phòng thủ đất Thuận Quảng, chống lại có hiệu quả các cuộc tấn công của quân Trịnh, mặt khác ra sức mở rộng lãnh thổ về phía Nam. Bằng chính sách nội trị mềm dẻo, ngoại giao khéo léo, Nguyễn Hoàng đã thành công trong việc xây dựng thực lực và năm 1570, được lãnh trấn thủ cả vùng đất Thuận Quảng. Buổiđầu, với chức Trấn thủ việc cắt đặt quan lại của Nguyễn Hoàng chịu sự chi phối của triều đình Lê - Trịnh. Quan lại vẫn do vua Lê bổ nhiệm. Năm 1614, Nguyễn Phúc Nguyên nối nghiệp cha, quyết định thải hồi các quan do nhà Lê cắt cử, cải tổ lại bộ máy chính quyền, dời chuyển phủ chúa vào Phước Yên và tổ chức bộ máy ở Chính Dinh gồm 3 ty:
Ty xá sai: quản lý chung mọi công việc ở Đàng trong và đảm trách việc xét xử, văn án từ tụng ở trung ương. Đứng đầu Ty xá sai có quan Đô tri và chức phó là Ký lục, và 3 Câu kê, 7 Cai hợp, 40 Ty lại giúp việc
Ty tướng thần: có quan Cai bạ đứng đầu chuyên lo về việc thu tiền sai dư và lúa tô ruộng các xã Thuận Hóa, phát lương tháng cho các dinh đạo Lưu Đồn, dinh Thủy và bộ Quảng Bình, dinh Bố Chính, phát tiền cho quân cùng cấp lính các xã, quản lý tài chính, thu thuế, cấp phát lương bổng.
Ty lệnh sử: có quan Nha úy đứng đầu chuyên phụ trách các hoạt động văn hóa, lễ nghi, tế tự, lễ tiết, phát lương tháng cho quân ở Chánh Dinh vầ coi các quan điền.
Mỗi ty ngoài các quan đứng đầu còn có 60 nhân viên giúp việc: câu kê 3 người, cai hợp 7 người, thủ hợp 10 người và ty lại 40 người. Năm 1669, chúa Nguyễn Phúc Tần đặt thêm một ty mới: Ty Nông lại để trông coi việc thu thuế ruộng đất.
Theo Đại Việt sử ký toàn thư, năm 1638, Chúa Nguyễn Phúc Lan đặt thêm 4 chức quan mới làm tứ trụ đại thần, gồm nội tả, ngoại tả, nội hữu, ngoại hữu là chức quan cao nhất trong chính quyền Thuận Hóa. Tuy nhiên bộ sử này không ghi rõ chức năng, quyền hạn của các quan này.
Ngoài ra, Chính Dinh còn có thêm Ty Nội lệnh sử coi các loại thuế, hai ty Tả, Hữu lệnh sử chia nhau thu nộp tiền sai dư (thuế thân) của các xã hai xứ để nộp cho Nội quan. Ty Lệnh sử đồ gia (Nhà đồ) giữ việc thu phát vật liệu, phẩm vật (như sắt, đồng, vàng thiếp, đồ đồng, than, gỗ, dầu sơn )quản lý kho.
Bộ máy chính quyền chúa Nguyễn vẫn đang còn trong quá trình phôi thai nên còn có nhiều sự thiếu ổn định và tổ chức chưa hoàn thiện về mặt nhà nước, đây chỉ được xem là một chính quyền tự chủ thoát li ra khỏi sự quản lí của chính quyền trung ương. Do đó, trong buổi ban đầu xây dựng chính quyền ở một vùng đất cực Nam của đất nước lại diễn ra trong quá trình nội chiến và họa xâm lấn từ các vương quốc phía Nam, đặc biệt là Chiêm Thành và Chân Lạp, chính quyền họ Nguyễn tồn tại như một sự chứng minh những luận điểm của mình là đúng, điều này được hai bên đưa ra trong ý đồ của hai họ trong giai đoạn lịch sử này, trên thực tế về phương diện đối nội cũng như đối ngoại thì giấy tờ công văn vẫn được sử dụng niên hiệu vua Lê, điều này chứng tỏ chính quyền do họ Nguyễn dựng lên chưa bao giờ có ý định muốn trở thành một quốc gia riêng, một nhà nước riêng tách ra khỏi triều đình Thăng Long, quốc hiệu Đại Việt. Cơ cấu chính quyền này chỉ mang tính ổn định tình hình trong thời buổi khó khăn.
Về bổ nhiệm quan lại, nửa đầu thế kỷ XVII, quan lại được bổ nhiệm theo tiến cử, thân tộc. Năm 1646, chúa Nguyễn Phúc Lan bắt đầu định phép thi cử gồm 2 cấp: Chính đồ (khoa thi lấy người đậu ra làm quan) và Hoa văn (khoa thi lấy học trò viết chữ tốt ra làm lại). Ngoài ra, chúa Nguyễn còn sử dụng chế độ mua quan, bán tước và không cấp bổng lộc cho quan lại, bổng lộc của quan lại phần nhiều do dân đóng góp. Xây dựng vùng đất Đàng Trong trong bối cảnh phải đương đầu với họ Trịnh ở Đàng Ngoài và tự mở mang thêm lãnh thổ nhằm tạo thế lực nên Nguyễn Hoàng và các chúa kế nghiệp đã xây dựng một thể chế đậm tính quân sự, lấy quân đội làm chỗ dựa và ưu tiên việc binh.
Sơ đồ chính quyền trung ương Đàng Trong 1600 – 1638:


Ty Xá Sai


Ty Lệnh Sử


Quận Công


(Chúa Nguyễn)


Ty Nội Lệnh Sử


Ty Tướng thần lại


Ty Lệnh sử đồ gia


Quận Công


(Chúa Nguyễn)

Sơ đồ chính quyền trung ương Đàng Trong 1638 – 1744:

Ty Nội Lệnh Sử


Ty Lệnh sử đồ gia
Tứ trụ đại thần
(Nội tả, Ngoại tả, Nội hữu, Ngoại hữu)


Tam ty
Thuộc viên Thuộc viên
(Câu kê, Cai hợp, Thủ (Câu kê, Cai hợp, Thủ
Hợp, Lại ty – 60 người) Hợp, Lại ty – 33 người)

Ty Tướng thần lại


Ty Xá Sai


Ty Lệnh Sử

Cai bạ Đô tri Nha úy
Ký lục

Thuộc viên
(Cai kê, Cai hợp, Thủ hợp, Lại ty – 60 người)
2.2.1.2. Chính quyền địa phương
Dinh: các dinh ở địa phương có nơi đặt đủ 3 ty như Chính dinh nhưng cũng có dinh chỉ đặt một Ty lệnh sử, có dinh đặt hai Ty Xá sai và Tướng thần lại, có dinh lại đặt hai Ty Xá sai và Lệnh sử để coi việc kiện tụng của quân và dân, sổ sách đinh, điền và trưng thu thuế ruộng sở tại, số nhân viên thì tùy theo công việc ít nhiều mà thêm bớt cho phù hợp với từng địa phương.
Phủ: có quan Tri phủ đứng đầu chuyên lo giải quyết các vụ kiện tụng trong phủ, lo các lễ nghi, tế tự và thu thuế.
Huyện: có quan Tri huyện đứng đầu chuyên khám lại những việc xét xử ở cấp xã, đốc thúc việc thu thuế, bắt lính
Xã: đây là cấp hành chính cơ sở, đứng đầu có Xã trưởng lo thu thuế, quản lý dân đinh trong xã
Nhìn chung, tổ chức chính quyền Đàng trong còn đơn giản, có nhiều chức danh và cơ quan chưa từng xuất hiện ở thời nhà Lê. Ở địa phương, chức năng, nhiệm vụ của từng cấp chính quyền chưa có sự phân định rõ ràng. Đây cũng là sự yếu kém của một chính quyền non trẻ, có thể coi đây là một chính quyền có nhiều khác biệt nhất trong số các chính quyền của dân tộc trước đó, bởi các chính quyền trước đó đều mang tính đặc thù của một nhà nước chính thống được các quốc gia lân bang công nhận và giao thiệp, nhưng chính quyền chúa Nguyễn chỉ được xem là một thế lực của người Việt ở phương Nam, do bất đồng với họ Trịnh mà li khai, cát cứ, mặc dù có chính quyền từ trung ương đến địa phương và do chính chúa Nguyễn bổ dụng quan lại nhưng vẫn không tách biệt khỏi xã hội Đại Việt, niên hiệu vua Lê và chính quyền này không ngừng lớn mạnh thu phục được Chiêm Thành và một phần Chân Lạp vào lãnh thổ của mình, điều khác biệt ở đây chính là thành phần xã hội, tôn giáo, dân tộc có sự khác nhau, cùng sự yếu kém về chính quyền thì vấn đề sát nhập thêm đất mới, dân tộc mới cũng đem lại cho chính quyền chúa Nguyễn những khó khăn trong quá trình cai trị và tổ chức chính quyền ở những vùng đất mới. Đặc biệt các Chúa Nguyễn còn lập ra nhiều cơ quan cùng lo việc thu thuế nhằm đẩy mạnh nguồn thu, tăng tiềm lực về tài chính và khả năng quân sự của mình. Đây là việc tất yếu cho sự tồn tại của bất cứ một chính quyền nào, nếu không có nguồn thu để nuôi chính quyền, cũng như quân đội thì họ Nguyễn liệu có tồn tại được. Tuy dân cư còn ít nhưng việc thu thuê cũng như tuyển chọn quân lính đối với chính quyền họ Nguyễn hết sức quan trọng.


Cơ cấu chính quyền địa phương Đàng Trong 1600 - 1744:

Dinh


Trấn (Hà Tiên)


Ty Sở thuộc


(Xá sai, Tướng thần lại, Lệnh sử)
Trấn thủ
Cai bạ
Ký lục

Phủ
Tri phủ
Phủ lại

Huyện

Phủ thông lại
Tri huyện
Đề lại

Tổng
Huyện thông lại


Xã, Thuộc

(Miền núi, ven biển)
Tướng thần Cai thuộc
Xã trưởng Ký thuộc
Tướng thần
Hà lãnh
2.2.2. Chính quyền chúa Nguyễn 1744 – 1776
2.2.2.1. Chính quyền trung ương
Cho đến giữa thế kỷ XVIII, họ Nguyễn đã làm chủ cả vùng rộng lớn từ Nam Hoành Sơn đến mũi Cà Mau, Đàng Trong chia thành 12 dinh: Bố Chính, Quảng Bình, Lưu Đồn, Cựu Dinh, Chính Dinh (Phú Xuân), Quảng Nam, Phú Yên, Bình Khang, Bình Thuận, Trấn Biên, Phiên Trấn, Long Hồ và 1 trấn là Hà Tiên. Mỗi dinh quản hạt 1 phủ (riêng Quảng Nam quản 3 phủ), dưới phủ có huyện, tổng, xã (hay phường). Chỉ có Chính Dinh mới có đủ cơ cấu 3 ty, các dinh khác có 1 hoặc 2 ty. Sau khi chúa Nguyễn Hoàng mất, đời con cháu của ông vẫn được nhà Lê phong chức, đến năm 1744, Nguyễn Phúc Khoát xưng vương, thành lập triều đình, đổi Ký lục thành Lại bộ, Nha úy thành Lễ bộ, Đô tri làm Hình bộ, Cai bạ làm Hộ bộ, đặt thêm Binh bộ và Công bộ, đồng thời đổi văn chức làm Hàn lâm viện. Vậy là các thay đổi lớn về chính quyền đều diễn ra trên đất Thừa Thiên Huế với tư cách là Chính Dinh. Sở dĩ Chúa Nguyễn chỉ xưng vương mà không xưng đế là vì Chúa Nguyễn vẫn xem mình là thần thuộc của Vua Lê và muốn lật đổ sự chuyên quyền của họ Trịnh nên không thể xưng đế để tự xem mình ngang hàng với Vua Lê. Cùng với việc xưng vương, Chúa Nguyễn đã bắt đầu định lại lễ nghi, phẩm phục và củng cố mạnh hơn nữa tổ chức chính quyền. Các đơn vị cơ sở ở Thừa Thiên Huế và cả Đàng Trong bấy giờ biến động và thay đổi luôn do quá trình khai hoang lập làng diễn ra rất mạnh.
Từ đầu thế kỷ XVII, người Đàng Trong đã học được cách đúc súng và trang bị cho thuyền chiến. Phương thức tổ chức chính quyền, quân đội như vậy đã tạo cho Đàng Trong có bước chuyển biến nhanh, đạt được ý đồ xây dựng cơ đồ của họ Nguyễn. Tuy nhiên nó cũng nhanh chóng bộc lộ những hạn chế làm cho bộ máy cồng kềnh, trở thành gánh nặng đối với nhân dân và xã hội.
Chúa Nguyễn đứng đầu bộ máy nhà nước Đàng trong. Giúp việc cho Chúa vẫn là các quan tứ trụ đại thần. Bãi bỏ Tam ty và lập ra Lục bộ thay thế và thực hiện chức năng của Tam ty. Lục bộ gồm: Bộ Lại, Bộ Hộ, Bộ Binh, Bộ Hình, Bộ Công, Bộ Lễ. Đứng đầu mỗi bộ có quan Thượng thư và các chức phó là Tả, Hữu thị lang. Chức năng của mỗi bộ phỏng theo mô hình như thời Lê sơ. Ngoài ra ở trung ương còn có Hàn lâm viện và một số cơ quan giúp việc khác.
Sau gần 150 năm họ Trịnh xưng vương thế tập, đến năm 1744 chúa Nguyễn Phúc Khoát tiếp nối chí hướng mà chúa Nguyễn Phúc Trú đã định ra khi vào năm 1704 Chúa đã cử xứ giả sang nhà Thanh xin cầu phong nhưng không được chấp thuận, bởi nhà Thanh chỉ công nhận chính quyền nhà Lê mà thôi. Đây là một hành động có vẻ như Phúc Khoát muốn bảo đảm công lao của các vị tiền nhân đã gây dựng và tạo một địa vị xứng đáng cho họ Nguyễn đối với lịch sử dân tộc. Mặc dù vậy, nhưng không thể xem đây là ý đồ muốn tách ra lập vương quốc riêng của họ Nguyễn, bởi họ chỉ xưng vương coi như vẫn tôn trọng vua Lê là người chủ của người Việt. Đến giai đoạn này có thể thấy cơ nghiệp của họ Nguyễn ở phía Nam đã có sự vững chắc hơn, lãnh thổ được mở rộng, nhân dân được sống trong cảnh thái bình, ổn định và đang trong thời kì hưu binh nên chiến sự không còn căng thẳng như trước, vị thế của họ Nguyễn đối với Chiêm Thành và Chân Lạp có tầm ảnh hưởng rất lớn. Chúa Nguyễn xưng vương là một hệ quả tất yếu cho quá trình phát triển của họ ở phía Nam Đại Việt, và cơ cấu bộ máy trung ương có sự học hỏi chính quyền Đàng Ngoài do cùng bản chất là người Việt, gần gũi nhau về ý thức hệ. tuy có sơ sài nhưng nhìn chung có sự thống nhất hơn và chính quyền tỏ được vị thế sức mạnh của mình trên thực tế.
Chính quyền chúa Nguyễn 1744 – 1776:


Chúa Nguyễn


Tứ trụ đại thần


Hàn lâm viện


Lục bộ


Lại bộ


Lễ bộ


Hộ bộ


Binh bộ


Hình bộ


Công bộ

2.2.2.2. Tổ chức chính quyền địa phương
Cấp dinh và trấn: Chúa Nguyễn Phúc Khoát chia Đàng trong thành 12 dinh và 1 trấn. Dinh và trấn là cấp hành chính cao nhất ở địa phương. Đứng đầu dinh có quan Đô đốc và đứng đầu trấn có quan Trấn thủ và giúp việc có Cai bạ và Ký lục.
Cấp phủ: chỉ có riêng dinh Quảng Nam được chia thành 3 phủ. Đứng đầu mỗi phủ là Tuần phủ. Còn các dinh khác không chia thành các phủ.
Cấp huyện: dinh, phủ được chia ra thành nhiều huyện. Đứng đầu mỗi huyện có quan có quan Tri huyện.
Cấp xã: là cấp hành chính cơ sở hoặc thuộc (ở miền núi và ven biển).
Ở mỗi cấp hành chính, chúa Nguyễn còn đặt riêng một ngạch quan chuyên thu thuế gọi là Bản đường quan, gồm Đề đốc và Phó đề đốc, Đề lĩnh và Phó đề lĩnh, Ký phủ, Thư ký, đặt dưới sự quản lý của cơ phụ trách thuế ở trung ương là Bộ Hộ. Cũng như những người đứng đầu các cấp hành chính đều được Chúa Nguyễn giao cho các quan võ.
Sau hơn 100 năm xây dựng chính quyền và mở mang bờ cõi thì chính quyền họ Nguyễn từ trung ương đến địa phương dần đi vào ổn định, và ngày càng phát huy được quyền lực của trung ương đến từng địa phương trong toàn cõi Đàng Trong. Là vùng đất mới với nhiều khó khăn ban đầu, chỉ trong vòng mấy chục năm họ Nguyễn còn làm được nhiều hơn những gì mà các triều đại trước đã làm, từ sự ổn định về cấp chính quyền địa phương từ trên xuống cơ sở cũng thể hiện bước phát triển nhanh chóng của chính quyền họ Nguyễn trong thời gian cai trị của mình ở Đàng Trong.
Do đặc điểm của vùng đất Đàng Trong, chính quyền của họ Nguyễn được hình thành và xây dựng trong quá trình khai phá và mở rộng đất đai nên chưa được hoàn chỉnh và thống nhất về mặt tổ chức và mức độ tập trung quyền lực cũng chưa cao. Ngay từ buổi đầu do chế độ đặt quan chức hơi phiền phức và cồng kềnh nên bộ máy chính quyền Đàng Trong đã thể hiện tính quan liêu và sâu mọt, nhất là hệ thống “Bản đường quan” chuyên trách thu thuế từ phủ, huyện trở xuống không cần đến đội ngũ quan chức địa phương, số quan lại được bổ dụng vị trí này rất nhiều không thể kiểm soát được hành vi nhũng nhiễu nhân dân, cũng như đục khoét tài của công.
Về cơ cấu chính quyền địa phương ở Đàng Trong giai đoạn này vẫn được giữ nguyên như trước không có nhiều thay đổi quan trọng.
Sơ đồ chính quyền địa phương ở Đàng Trong 1744 – 1776:


Dinh


Trấn (Hà Tiên)


Ty Sở thuộc


(Xá sai, Tướng thần lại, Lệnh sử)
Trấn thủ
Cai bạ
Ký lục

Phủ
Tri phủ
Phủ lại

Huyện
Phủ thông lại
Tri huyện
Đề lại

Tổng

Huyện thông lại


Thuộc
(Miền núi, ven biển)
Tướng thần Cai thuộc
Xã trưởng Ký thuộc
Tướng thần
Hà lãnh
2.2.3. Tổ chức quân đội trong chính quyền họ Nguyễn
Quân đội được xem là vấn đề sống còn đối với sự tồn tại của chính quyền họ Nguyễn, bởi phía Bắc phải chống cự với họ Trịnh, ở phương Nam thì lo đối phó với Chiêm Thành và Chân Lạp, quân đội thường xuyên được sử dụng để mở mang lãnh thổ, ổn định tình hình sau khi xác nhận chủ quyền, một thế lực nữa cần phải chế ngự đó là Xiêm La, nên quân đội hết sức được chú trọng trong quá trình tồn tại và phát triển của dòng họ Nguyễn ở phương Nam Đại Việt.
Quân đội của họ Nguyễn ở Đàng Trong được chia làm 3 loại: quân Túc vệ ở kinh thành Phú Xuân, quân Chính quy thường trực ở các Dinh và Thổ binh ở các địa phương trong toàn cõi. Hệ thống tổ chức quân đội của họ Nguyễn phiên chế không được thống nhất. Cùng với quân đội chính quy thường trực gọi là Chính binh hay Tinh binh, họ Nguyễn rất chú trọng tổ chức quân đội địa phương, đó là Thổ binh, Tạm binh (quân địa phương) hay còn gọi là Thuộc binh (đội quân phụ thuộc). Quân đội của họ Nguyễn ở Phú Xuân hay ở các Dinh đều được chia làm hai loại: Nội binh ở Chính dinh và Cát dinh, Ngoại binh là binh các trấn khác.
Để có được một đội quân trung thành và có tinh thần chiến đấu tốt, có khả năng chịu đựng và có quyết tâm chống họ Trịnh, họ Nguyễn tuyển mộ binh lính hết sức chặt chẽ và nghiêm ngặt. Dân đinh được chia làm 8 hạng: Tráng, Quân, Dân, Lão, Tật, Cố, Cùng và Đào vong. Kỉ cương trong quân đội được thực hiện một cách nghiêm túc và không quên.
Quân đội Đàng Trong cũng như Đàng Ngoài, gồm có bộ binh, thủy binh, pháo binh và có thêm tượng binh, được chia thành dinh, cơ, đội, thuyền. Thuyền là đơn vị thấp nhất trong quân đội. Điều khiển đội có Cơ đội và Đội trưởng, Cơ có Chưởng cơ và Cai cơ, còn Dinh là một quân đoàn, cũng gồm nhiều thuyền, đội như cơ, do Chưởng Dinh cầm đầu. Chưởng Dinh là chức vụ cao nhất trong biên chế quân đội chính quyền họ Nguyễn. Thông thường những chức vụ quân trọng đều do tôn thất, họ hàng, người Làng thân thích của chúa Nguyễn nắm giữ.
Về lực lượng thủy quân, theo số liệu được ghi chép vào năm 1653, đời chúa Nguyễn Phúc Tần (1635 - 1687) đã cho duyệt binh ở Phú Xuân để chuẩn bị lực lượng Bắc tiến. Bao gồm: Cơ trung hầu gồm 10 thuyền, 300 người, nội bộ 60 đội thuyền hơn 3.280 người, Nội thủy 59 thuyền, 6.410 người Tổng cộng số binh dự cuộc duyệt là 22.740 người[10] (http://kilobooks.com/newthread.php?f=16#_ftn10). Số binh và ngạch binh ở Chính dinh Phú Xuân và ở các Dinh, Trấn dưới thời chúa Nguyễn được chia ra làm nội binh là binh ở Chính dinh và Cát dinh, và ngoại binh là binh ở các Dinh, Trấn khác nhau. Quân ở Chính dinh bao gồm tất cả là khoảng 3 vạn quân, số quân này được trả lương hàng tháng từ kho bạc nhà nước, hay được cấp tô thuế ở làng xã. Còn ở Cát dinh có Cơ Trung Kiên gồm 6 thuyền, 288 người, các Cơ Tả Kiên, Hữu Kiên, Tiền Kiên, Hậu Kiên mỗi Cơ 5 thuyền, mỗi thuyền 225 người, đội Thắng thủy 2 thuyền, 110 người, Cơ Kiên tượng, quản mục và quân bắn 30 người. ngoài số quân thường trực phải tập luyện và chiến đấu còn có một số hạng tạp binh chuyên sai việc vặt và canh giữ quân số tổng cộng 2.519 người, hàng tháng cũng được lãnh lương ở Phú Xuân.Các Dinh, Trấn khác cũng được biên chế và các cơ như ở Chính dinh, nhưng quân đội ở các Dinh có phần đông đảo hơn về số lượng.
Về binh khí, đời chúa Nguyễn Phúc Nguyên đã cho đặt ty Nội Pháo tượng và hai đội Tả, Hữu Pháo tượng để đúc súng tay, súng đại bác. Từ năm 1614, Đàng Trong luôn được các thương nhân phương Tây cập bến, mua bán hàng hóa và chúa Nguyễn nhập vũ khí của họ là phần lớn, nhằm trang bị vũ khí chống họ Trịnh. Chúa Nguyễn cũng rất quan tâm đến việc chế tạo vũ khí và luyện tập thao trường cho quân sĩ, đây là điểm mạnh của quân đội họ Nguyễn. Tuy nhiên , tổ chức quân đội không bằng ở Đàng Ngoài, do đây là vùng đất mới, dân thưa đất rộng việc tòng quân là rất hạn chế, binh lực tuy không mạnh nhưng tinh thần chiến đấu hết sức dũng cảm, và có vị thủ lĩnh tinh thần luôn đứng sau cổ vũ, đây cũng là yếu tố giúp quân đội họ Nguyễn liên tiếp đẩy lùi được các cuộc Nam chinh của quân Trịnh, và một lần hăng hái xông pha tiến ra Bắc chiếm được 7 thành ở Nghệ An.
Quân đội là một yếu tố không thể thiếu trong việc thực thi quyền lực của chính quyền của bất cứ một thế lực cát cứ hay chính quyền thoát li, kể cả chính quyền trung ương nhà nước cũng vậy. Quân đội là công cụ để thực hiện quyền lực của chính quyền của chính quyền đối với nhân dân, cũng như là công cụ để răn đe ngăn ngừa thế lực ngoại bang. Về quân đội của chúa Nguyễn là lực lượng để bảo vệ chính quyền họ Nguyễn tách ra khỏi sự kiểm soát của triều đình Thăng Long, và là lực lượng chiến đấu chống sự thù địch của các nước lân bang. Trong giai đoạn đầu của sự nghiệp lâu dài của họ Nguyễn ở Đàng Trong không thể không quan tâm đến yếu tố quân sự. Có thể nói quân đội chúa Nguyễn là một lực lượng được tôi luyện và có ý chí chiến đấu rất cao và tuyệt đối trung thành với chủ tướng, vì thế mà không những họ Nguyễn thực hiện được ý đồ chống họ Trịnh thì lực lượng này lại là một phần đóng góp công rất lớn vào quá trình tiến về Nam của người Việt.
2.3. Triều đình Thăng Long với chính quyền họ Nguyễn
2.3.1. Chính quyền vua Lê chúa Trịnh
2.3.1.1. Đặc điểm bộ máy chính quyền Thăng Long
Ở Đàng Ngoài, là nhà nước quân chủ chuyên chế trên danh nghĩa là của vua Lê, nhưng quyền lực thực tế do chúa Trịnh nắm giữ. Để chính thức hóa quyền lực của mình năm 1599 Trịnh Tùng tự xưng là Đô nguyên soái tổng quốc chính và ép vua Lê phong cho mình tước vương. Lê Thế Tông phong cho Trịnh Tùng làm Bình An Vương cùng các đồ vật tượng trưng cho uy quyền tối cao như: chén ngọc, cờ lông, búa vàng. Trịnh Tùng lập phủ chúa, tuyển bổ quan lại tùy thuộc, chức Vương cha truyền con nối. Ở trung ương, song song tồn tại bên cạnh triều đình của vua Lê là phủ chúa Trịnh. Triều đình vua Lê chỉ là bù nhìn. Nhà vua chỉ được hưởng các nghi thức đế vương khi thiết triều và tiếp sứ thần nước ngoài, ngoài ra không có quyền hành gì khác, mọi việc hệ trọng trong nước (chiến tranh, hòa bình, cống phú, bổng lộc, thuế má ) đều do phủ chúa quyết định. Điều này có thể khẳng định là ý đồ chống đối của họ Nguyễn là hoàn toàn chính xác, khi trên thực tế họ Trịnh như là một ông vua không ngai mà thôi, còn về họ Lê chỉ là tôn hiệu để yên lòng dân, bởi sự trở lại của vương triều này cũng là một phần của lòng thủy chung của nhân dân đối với nhà Lê.
Về hình thức, triều đình vua Lê vẫn giữ theo mô hình thời Lê sơ và cơ cấu cũng như tổ chức cũng như quyền hạn, chức năng vẫn như trước đây nhưng càng về sau càng bị hạn chế bởi sự ra đời của các cơ quan bên phủ Chúa. Họ Trịnh không chỉ tước hết quyền hành của vua Lê mà còn thành lập một chính quyền khác do mình điều hành, thực chất chính quyền và quan lại ở đây thậm chí còn hơn quan lại làm việc cho vua, dù họ Trịnh vẫn xác định chức nhiệm chủ chốt vẫn thuộc về triều đình. Công cuộc khôi phục họ Lê là một sự hợp sức, ủng hộ của nhân dân dưới lãnh đạo của họ Trịnh, nhưng không vì thế mà vua Lê không xứng đáng với ngai vị của mình, khi giang sơn được thu hồi. Bởi thế mà họ Nguyễn kháng cự hùng cứ một phương, làm cho tình hình đất nước thay đổi, mặc dù vua Lê bị tiếm quyền nhưng trên thực tế vẫn là vua của Đại Việt, vì thế tuy họ Nguyễn có ý muốn tách ra khỏi Thăng Long nhưng vẫn không bao giờ từ bỏ tôn hiệu vua Lê trong các giấy tờ hành chính của mình.
Về nguyên tắc thì chỉ có vua với tư cách là người đứng đầu nhà nước phong kiến mới có quyền trong hoạt động lập pháp, tuy nhiên trên thực tế, sự tồn tại của Chúa Trịnh lấn át quyền Vua Lê nên Chúa Trịnh ban hành có giá trị về mặt pháp lí thì buộc phải có dấu triện của Vua Lê ấn vào. Hơn thế những văn bản pháp luật mang danh nghĩa Vua Lê ban hành nhưng thực chất do chúa Trịnh soạn sẵn. Như vậy thì phủ chúa mới thực sự là nơi điều hành đất nước và thực thi pháp luật. Các triều đại trước, vua là người nắm giữ mọi quyền lực trong tay, nay một tước quân vương lại có thể thay thế nhà vua trong cả việc lập pháp là điều khác thường, họ Trịnh quả có công lao với vương triều Lê nhưng không vì vậy mà cho rằng mình xứng đáng nắm quyền.
Trong lĩnh vực bổ nhiệm và thưởng phạt quan lại: theo đề nghị của Bộ Lại, chỉ vua Lê mới có quyền tuyển bổ, ban phẩm hàm hay thưởng phạt đối với các chức quan từ hàng tam phẩm trở lên, kể cả Chúa Trịnh. Còn những chức quan khác thuộc thẩm quyền của Chúa. Tuy nhiên khi thực hiện quyền này, các chúa Trịnh đều phải dùng danh nghĩa Vua Lê để ra sắc chiếu hay chỉ dụ tuyển bổ, thưởng, phạt
Về tài chính, thuế khóa: hầu như mọi quyền hành liên quan tài chính thuế khóa của quốc gia đều do Chúa Trịnh nắm giữ như: thu chi ngân sách, quyết định các chính sách về tài chính, lương bổng, các loại thuế và đặc biệt là quyền được in ấn tiền tệ vốn trước đây là của Vua Lê nắm giữ. Như vậy Vua Lê gần như không còn chút quyền hành nào.
Theo đạo chiếu năm 1645 của vua Lê Chân Tông và 1718 của vua Lê Dụ Tông thì Ngự sử đài (trong triều đình vua Lê) có trách nhiệm xem xét các bản án đã được cơ quan tư pháp địa phương xét xử nhưng còn kêu oan. Trong trường hợp vẫn còn kháng cáo thì chuyển vụ án về Phủ Chúa để Chúa Trịnh xử lí và đưa ra phán quyết cuối cùng. Như vậy quyền tài phán cuối cùng thuộc về Chúa Trịnh.
Như vậy trên danh nghĩa là Vua Lê là nguyên thủ quốc gia là hữu danh vô thực, tất cả quyền bính thuộc về Chúa Trịnh. Chúa Trịnh không dám lật đổ Vua Lê, Vua Lê chấp nhận sự lấn át quyền hành của Chúa Trịnh nên cả hai cùng dựa vào nhau để tồn tại và tập quán chính trị “lưỡng đầu chế” thời nhà Trần đã được áp dụng.
2.3.1.2. Tổ chức chính quyền trung ương
Từ khi triều Lê được tái lập (1533) đến khi họ Trịnh được thế tập tước vương (1599), mọi tổ chức chính quyền Nhà nước của nhà Lê vẫn được duy trì như thời Hồng Đức. Giúp việc cho vua là Lục bộ: Lại bộ, Hộ bộ, Lễ bộ, Binh bộ, Hình bộ và công bộ, đứng đầu mỗi bộ là thượng thư, cùng tả hữu thị lang chịu trách nhiệm chung và một cơ quan thường trực gọi là Vụ tư sảnh. Giúp việc cho Lục bộ còn có Lục tự, được thiết lập năm 1466 dưới triều Lê Thánh Tông và được duy trì suốt trong thời kì Lê trung hưng, bao gồm: Đại lý tự, Thái thường tự, Quang lộc tự, Thái bộc tự, Hồng lô tự và Thượng bảo tự. Đứng đầu mỗi tự là một viên Tự khanh, một viên Thiếu khanh và một viên tự thừa. Ngoài Lục tự còn có Lục khoa, là cơ quan giám sát công việc của từng bộ tương ứng, Lục khoa ra đời năm 1460 gồm có: Trung thư khoa, Hải khoa, Đông khoa, Tây khoa, Nam khoa, Bắc khoa. Sau này thì đổi lại cho phù hợp với công việc giám sát từng bộ: Lại khoa, Binh khoa, Lễ khoa, Hình khoa, Hộ khoa, Công khoa, đứng đầu mỗi khoa là Đô cấp sự trung hàm Chánh thất phẩm và Cấp sự trung hàm Chánh bát phẩm. Tuy phẩm hàm thấp nhưng quan đứng đầu Lục khoa lại rất có trọng chức. Ngoài Lục khoa còn có Ngự sử đài giữ nhiệm vụ kiểm soát tất cả các cơ quan và các quan về nhiệm vụ chung. Mỗi khi có việc ở triều đình thì định thứ tự trước hết là Lục khoa, sau đến Ngự sử đài và các cơ quan chuyên trách khác.
Bộ máy chính quyền Lê – Trịnh như sau:


Vua Lê
Hàn lâm viện
Đông các

Trung thư giám

Các cơ quan chuyên môn



Lục tự


(Giúp việc Lục bộ)


Lục bộ


Cơ quan đầu não tại triều đình

Bộ Lại Đại lý tự Thông chính ty

Ngự sử đài


(Kiểm soát tất cả các cơ quan và các quan về nhiệm vụ chung)


Lục khoa


(Kiểm soát Lục bộ theo chuyên môn)

Bộ Hộ Thái thường tự Quốc tử giám
Bộ Lễ Quang lộc tự Quốc sử viện
Bộ Hình Thái bộc tự Các cơ quan
Bộ Binh Hồng lô tự chuyên về
Các cơ quan kiểm soát


Bộ Công Thượng bảo tự nông nghiệp
Các cơ quan đầu não tại triều đình, quan trọng vẫn là Lục bộ. Trên Lục bộ còn có chức Đại tư đồ, Đại tư mã, Đại tư không, Tam thái, Tam thiếu để ưu đãi công thần, đặc biệt là những công thần có công trong buổi trung hưng phù Lê diệt Mạc.
Sơ đồ tổ chức Bộ của triều đình nhà Lê:


Thượng thư


Tả thị lang


Hữu thị lang
Cơ quan chuyên trách Nha môn thừa hành
Tùy từng bộ Tùy từng bộ
Một hoặc vài cơ quan Một hoặc vài cơ quan

Vụ tư sản
Văn phòng Trung ương
Đến năm 1718, Trịnh Cương đã cho lập đủ 6 phiên tương ứng với 6 bộ bên triều đình, như vậy sau hơn 100 năm nắm thực quyền cai quản đất nước nay họ Trịnh chính thức lập ra cơ quan chuyên trách như cơ cấu triều đình nhà Lê. Bây giờ mọi công việc của triều đình trên tất cả các lĩnh vực đều thuộc quyền quản lí của Lục phiên, những cơ quan bên cạnh vua chỉ mang tính tượng trưng như một chính thể nhà nước chuyên chế. Ngoài ra bên cạnh chúa Trịnh còn có quan Ngũ phủ, bao gồm: Chưởng phủ sự, Thựu phủ sự, Quyền phủ sự bên cạnh ngạch võ, các chức Tham tụng, Bồi tụng bên ngạch văn gọi là quan Phủ liêu. Quan ngũ phủ và Phủ liêu họp thành một cơ quan của Nhà nước quân chủ trung ương gọi là Ngũ phủ phủ liêu – một chính phủ tối cao đặt dưới quyền điều khiển của chúa Trịnh. Điều này càng chứng tỏ, họ Trịnh ngày một hoàn thiện quá trình thâu tóm mọi quyền hành ở triều đình thông qua bộ máy chính quyền trung ương do họ Trịnh từng bước lập ra.
Sơ đồ tổ chức Phiên:


Tri Phiên


Thiêm Tri (Thiêm Đô)


Phó Tri (Phó Đô)


Các hiệu thu thuế theo sản vật


Cơ quan chuyên môn


Các hiệu thu thuế theo địa phương


Cơ quan tiếp nhận thuế
và cấp phát bổng lộc


Văn phòng trung ương

(Trong sáu phiên trừ Hộ phiên không có cơ quan thừa hành chuyên môn, còn lại đeèu có các cơ quan giống nhau, tên hiệu cũng như tên cơ quan cụ thể thì tùy thuộc vào từng phiên mà có tên gọi khác nhau.)
2.3.1.3. Tổ chức chính quyền địa phương
Hệ thống tổ chức hành chính và chính quyền địa phương thời Lê – Trịnh về cơ bản vẫn được dựa vào tổ chức cũ của thời Lê Thánh Tông. Cả nước được chia thành các: Trấn, Phủ, Huyện, Châu và xã. Cơ cấu chính quyền có phần ổn định hơn và được kiểm soát chặt chẽ từ trung ương, tuy nhiên đến cuối thế kỉ XVIII thì chính quyền trung ương ngày càng suy yếu, buộc phải giao cho xã trưởng được tự quyết các vấn đề trong thôn, xã họ quản lí.
Tổ chức chính quyền địa phương dưới thời Lê – Trịnh:


Trấn


Cơ quan sơ thuộc


Trấn ty, Thừa ty, Hiến ty
Trấn thủ
Đốc trấn
Lưu thủ Phủ Tuần thủ
Tri phủHuyện
Tri huyệnChâu

Tri châuXã
Xã trưởng
Trên đây là phác đồ về tổ chức bộ máy chính quyền thời Lê – Trịnh: ở trung ương có tổ chức Lục bộ tại triều đình và tổ chức Lục phiên bên phủ Chúa, còn ở địa phương ngoài chuyển đổi cấp Đạo thành Trấn còn các cấp Phủ, Huyện, Châu, Xã thì vẫn được giữ nguyên như thời Lê sơ.
Mặc dù có sự cát cứ của họ Nguyễn và cuộc chiến 45 năm giữa hai miền, nhưng chính quyền Đàng Ngoài cũng như Đàng Trong vẫn được tổ chức một cách chặt chẽ và hệ thống từ trên xuống.
2.3.1.4. Tổ chức quân đội Lê – Trịnh
Chính quyền thống trị Lê – Trịnh đã không có cơ sở vững chắc trong nhân dân lại thường xuyên phải đương đầu với các thế lực xung quanh, nên nhà Lê – Trịnh sớm có ý thức xây dựng cho mình một lực lượng quân đội thường trực vững mạnh để bảo vệ. Lúc ban đầu, tổ chức quân đội đại thể vẫn được giữ nguyên theo quy chế cũ của thời Lê sơ[11] (http://kilobooks.com/newthread.php?f=16#_ftn11). Quân được chia làm 5 phủ và vẫn đặt chức Đô đốc phủ quân. Bên cạnh chức Đô đốc 5 phủ lại cho đặt quân dinh 5 khuông: Trung khuông, Tả khuông, Hữu khuông, Tiền khuông và Hậu khuông. Ở Dinh lại chia ra Cơ đội theo thứ bậc khác nhau. Khi kết thúc cuộc chiến Lê – Mạc, quân thủy bộ đã lên tới 12 vạn.
Từ năm 1600 trở đi quân đội được chia làm hai loại: Loại quân thường trực chuyên canh giữ kinh thành và phủ Chúa gọi là quân Túc vệ - quân Tam phủ. Ngoài hai lực lượng quân thường trực túc vệ ở kinh thành, chính quyền Lê – Trịnh còn tổ chức loại quân thứ hai gọi là Ngoại binh hay nhất binh. Nhà Lê – Trịnh tập trung lực lượng vào xây dựng một đội quân thường trực vững mạnh để bảo vệ chính quyền, làm chỗ dựa vững chắc cho bộ máy chính quyền thống trị bấy giờ. Quân đội Lê – Trịnh gồm 4 binh chủng: Bộ binh, Thủy binh, Kỵ binh, Pháo binh. Ngoài bộ binh là lực lượng quan trọng trong cuộc chiến tranh Trịnh – Nguyễn, thì thủy binh cũng rất được chú ý trong quá trình xây dựng quân đội nhà Lê – Trịnh. Thuyền chiến ở Đàng Ngoài cũng giống như Đàng Trong nhưng “chỉ khác là ở Đàng Ngoài có nhiều hơn, vững hơn và trang hoàng đẹp đẽ hơn”[12] (http://kilobooks.com/newthread.php?f=16#_ftn12). “Thuyền của Chúa Đàng Trong có thể lên tới con số ít ra là 200 và đúng như người ta nói Chúa Đàng Ngoài có thể gấp ba hay bốn lần, thế cho nên người ta đoán có tới 500 hay 600 thuyền chiến Đàng Ngoài”[13] (http://kilobooks.com/newthread.php?f=16#_ftn13). Nhà Lê – Trịnh cũng rất chú ý đến việc tập luyện cho quân sĩ nhằm có một đội quân hùng mạnh, có khả năng trong chiến đấu nên việc mở trường dạy võ đào tạo sĩ quan.
Nhìn chung quân lực của Đàng Ngoài luôn có sự vượt trội hơn Đàng Trong, do ở đây là cái nôi của người Việt, cư dân đông đúc và đất rộng hơn Đàng Trong của họ Nguyễn, nên việc xây dựng một đội quân thiện chiến là rất thuận lợi. Tuy nhiên, trải qua 45 năm Nam chinh đội quân này lại bị khuất phục bởi chiến lũy và sức chiến đấu của quân dân Đàng Trong. Quân đội của hai Đàng được xem là một thế lực hùng mạnh ở bán đảo Đông Dương lúc bấy giờ, có khả năng bành trướng thế lực xa hơn nữa, tuy nhiên hai lực lượng này lại đối kháng lẫn nhau, làm cho sức mạnh bị suy kiệt đi rất nhiều.



Chương 3


Chức năng và vai trò của chính quyền Đàng Trong

3.1. Chức năng đối nội
3.1.1. Tổ chức khai khẩn vùng đất phía Nam
Từ nhiều thế kỉ trước người Việt đã bắt đầu những bước chân của mình về phương Nam, và dần dần hình thành nên những xóm làng của mới. Đến thế kỉ XVI, công cuộc khai phá đất miền Nam của người Việt được tiến hành một cách mạnh mẽ hơn, do nhu cầu bức thiết của chính quyền họ Nguyễn. Khá nhiều họ tộc từ Thanh Hóa, Nghệ An, Hải Dương, Cao Bằng vào làm ăn và sinh sống ở phương Nam. Trong những trận chiến với họ Trịnh, thường số quân bắt được và nhân dân trong vùng chiến sự đều được chúa Nguyễn cho di cư vào Nam để hình thành nên cộng đồng người Việt ở đấy, từ đó dần cho dân Việt sống hòa lẫn với các dân tộc khác trong những vùng đất mới. Chiếm đa số là lưu dân nghèo quê đất Bắc, theo lệnh triều đình vào Nam lập nghiệp. Ngay từ khi Nguyễn Hoàng vào Thuận Quảng thì đã đem theo những thân thuộc, hàng xóm cùng quê hương Tống Sơn và nghĩa dũng đất Thanh Hóa vào cùng. Trong những năm đầu xây dựng vùng đất mới, Nguyễn Hoàng chủ trương khuyến khích khai hoang lập ấp, trực tiếp quản lí ruông đất và phát triển nông nghiệp ở vùng đất Đàng Trong. Như việc, Nguyễn Hoàng đã tiến hành cho đo đạc ruộng đất của hai xứ Thuận Hóa và Quảng Nam để tiến hành thu thuế và ổn định sản xuất nông nghiệp.
Trong những năm tiếp theo dưới các đời Chúa sau, công cuộc khai phá Đàng Trong lại được tiến hành một cách mạnh mẽ hơn, cùng với đó là quá trình mở mang bờ cõi của người Việt. Sang thế kỉ XVIII, nhiều cư dân Đàng Ngoài do bị áp bức, do chiến tranh loạn lạc, họ bị mất đất và đã di cư vào Nam khai hoang thành lập nên những xóm làng mới, tạo thành một cộng đồng dân cư đông đúc, thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp. Năm 1600, từ khi Nguyễn Hoàng vào Thuận Quảng lần hai thì bắt đầu tách ra khỏi sự kiểm soát của triều đình, những năm trước đều đặn thu thuế nộp về triều, nay tự bổ dụng chức quan và thu, trực tiếp quản lí đất đai ở Đàng Trong. Tháng 5 – 1618, Nguyễn Phúc Nguyên cho tiến hành đo đạc ruộng đất hai xứ Thuận Quảng, sử triều Nguyễn chép: “Bấy giờ bọn hương lý hào hữu xâm chiếm mất nhiều ruộng công để làm lợi riêng. Đến đấy sai quan đo đạc ruộng hiện có để thu thuế, dân mới hết tranh nhau, mọi người đều yên nghiệp”[14] (http://kilobooks.com/newthread.php?f=16#_ftn14). Đời sống nông nghiệp của cư dân Đàng Trong dần đi vào ổn định và phát triển như ở Đàng Ngoài, đến năm 1669 chúa Nguyễn Phúc Tần cho quan đi đo đạc lại ruộng đất ở các huyện, “Định làm 3 bực và chia các hạng ruộng mùa thu, đất khô để thu thóc thuế theo thứ bực. Ruộng công thì cho dân chia nhau cày để nộp tô, nếu có người khai khẩn rừng hoang mà cày thành ruộng thì cho trưng thành ruộng tư (Bản tức tư điền) cho cày mãi mà nộp thuế riêng, xã dân không được tranh chiếm. Từ đó dân hết mối tranh kiện, yên phận làm ăn”[15] (http://kilobooks.com/newthread.php?f=16#_ftn15). Nhìn chung, các chúa Nguyễn rất chăm lo đến tình hình đất đai cũng như nông nghiệp mà từ đó nhân dân Đàng Trong yên tâm khai phá làm ruộng, góp công xây dựng chính quyền do họ Nguyễn đứng đầu. Bên cạnh ruộng đất công làng xã còn có loại ruộng gọi là “Quan điền trang” và “Quan đồn điền”, đây là loại ruộng đất thuộc quyền quản lí và sử dụng của các chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn dùng để ban thưởng cho huân thích, quý thần và các tướng có công làm ruộng ngụ lộc. Chính sách khuyến khích khai hiang làm ruộng tư của các chúa Nguyễn đã kích thích sự phát triển của ruộng tư, vùng đất Gia Định, Đồng Nai đã xuất hiện hàng loạt địa chủ có số ruộng đất tư rất lớn, tới hàng ngàn mẫu.
Đất Đàng Trong nói chung, Nam Bộ nói riêng là vùng đất mới được khai phá từ cuối thế kỉ XVII đến nay. Chúa Nguyễn đã có những chính sách quan tâm đến nông nghiệp, một loạt các con sông và kênh được đào vét ở vùng Thuận Quảng, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân làm ăn sinh sống, phát huy được tính cần cù lao động và tinh thần dũng cảm của những người nông dân ban đầu khi khai phá những vùng đất bí ẩn trước đây người Việt chưa từng được biết tới. Từ những vùng đất này người Đàng Trong đã sản xuất ra được nhiều loại nông sản có giá trị, quan trọng và chủ yếu là lúa gạo, ngoài ra còn có các cây lương thực và cây con khác, như: cây dâu, quế, bông, yến sào, hồ tiêu, chuối Lê Quý Đôn chép: “Tục Thuận Hóa gọi cây ý dĩ là bo bo, hạt vừng là hạt mè, quả gai là trái thơm, quả na là mãng cầu, mít nhão gọi là mít ướt, mít gai là mít ráo, xoài lớn gọi là xoài tượng, xoài nhỏ gọi là xoài cơm, vừa gọi là móc mít”, “có thứ gọi là khoai sáp đường, nấu lên thì hơi vàng, mềm dẻo như sáp; ”[16] (http://kilobooks.com/newthread.php?f=16#_ftn16). Một trong những sản phẩm từ nông nghiệp là mía đường, là mặt hàng xuất khẩu ở Đàng Trong. Chúa Nguyễn từng bước biến vùng đất hoang trở thành vùng đất trù phú, theo Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn: “Phủ Gia Định, Đồng Nai từ cửa biển Cần Giờ, Xoài Rạp, Cửa Đại, Cửa Tiểu toàn là rừng rậm mấy nghìn dặm. Họ Nguyễn trước đánh nhau với Cao Miên mà lấy được chiêu mộ những dân có vật lực ở xứ Quảng Nam ,các phủ Điện Bàn,Quảng Ngãi, Quy Nhơn cho tới đây, phát chặt mở mang hết thảy thành bằng phẳng, đất đai màu mỡ, cho dân tự chiếm trồng cau và làm nhà ở. Lại thu con trai, con gái người Mọi ở các đầu nguồnđem bán làm nô tỳ (người đen tóc quăn là Mọi thực giá 20 quan, hơi trắng giá chỉ 10 quan ),cho tự lấy nhau sinh đẻ nuôi nấng thành người, cày ruộng làm nghề nghiệp mà thóc rất nhiều. Người giàu ở các địa phương hoặc 40 hoặc 50 nhà, hoặc 20 hoặc 30 nhà, mỗi nhà điền nô hoặc 50 hoặc 60 người, trâu bò đến 300, 400 con , cày bừa cấy gặt rộn ràng không lúc nào rỗi”[17] (http://kilobooks.com/newthread.php?f=16#_ftn17).
Tuy nhiên, do điều kiện là vùng đất mới, nên những chính sách của chúa Nguyễn cũng từng bước hạn chế dần sự yếu kém về mặt quản lí của chính quyền, cùng với di dân họ Nguyễn dần khẳng định vị thế của mình trong vùng đất phía Nam này. Những công lao của chúa Nguyễn đối với công cuộc khai khẩn vùng đất Đàng Trong là rất lớn, nó là động lực, là điều kiện để người Việt làm chủ vùng đất phía Nam.
3.1.2. Phát triển kinh tế công – thương nghiệp
Trong giai đoạn này, thủ công nghiệp phát triển mạnh mẽ, đa dạng sản phẩm ngành nghề. Sự phát triển của nó thúc đẩy thương nghiệp phát triển. Trên cả hai phương diện thủ công nghiêp nhà nước và thủ công nghiệp trong nhân dân đều được đẩy mạnh.
Trong nhà nước: Chúa Nguyễn có những chính sách phát triển thủ công nghiệp. Hầu hết các xưởng thủ công nghiệp đã tạo ra nhiều sản phẩm đẹp, tinh xảo đa dạng, được nước ngoài ưa chuộng. Trong quá trình làm ra sản phẩm đã hình thành nên đội ngũ thủ công nghiệp lành nghề. Chính quyền họ Nguyễn ở Đàng Trong vẫn duy trì các công xưởng và quan xưởng. Đây là loại hình thủ công đã có từ thời Lý, đáp ứng nhu cầu về mọi mặt của triều đình như xây dựng các điền đài, cung điện, khai thác mỏ, đúc tiền, sản xuất vũ khí và những đồ dùng phục vụ nhu cầu sinh hoạt của tầng lớp quý tộc Để phục vụ cho cuộc chiến chúa Nguyễn rất chú trọng phát triển các xưởng đóng tàu với quy mô lớn, có thể sản xuất được tàu 400 tấn, đến năm 1674 chúa Nguyễn đã có trong tay khoảng 230 – 240 chiếc thuyền, mỗi thuyền có 64 người. Cùng đó, chúa Nguyễn rất chú trọng phát triển đúc súng để phục vụ cho quá trình bảo vệ lãnh thổ và mở mang đất nước. Trước đây, Đàng Trong rất thông dụng dùng tiền của Trung Hoa và một phần của Đàng Ngoài, sau này do nhu cầu ngày càng phát triển của xã hội chúa Nguyễn bắt đầu cho đúc tiền của riêng mình. Năm 1736, tiền đồng được đúc nhưng rất tốn kém, 10 năm sau cho đúc tiền kẽm lưu thông được một thời gian thì bị khủng hoảng do nhà nước không kiểm soát được số lượng tiền do tư nhân đúc.
Thủ công nghiệp dân gian: cũng có nhiều ngành nghề thủ công nghiệp đa dạng: rèn, mộc, dệt vải, kéo tơ, đúc chuông làm gốm, trạm trổ, tô tượng, dệt chiếu riêng nghề làm gốm, làm đường phát triển mạnh mẽ với nhiều trung tâm sản xuất nổi tiếng: Lộc Thượng, Phú Vinh (Quảng Nam), Mỹ Thiện (Quảng Ngãi), Bình Định Tất cả các sản phẩm của các nghề thủ công nghiệp đều được buôn bán trong và ngoài nước. Nghề khai mỏ phát triển, xuất hiện nhiều công trường khai mỏ tập trung nhiều công nhân hoạt động khai thác .Đây là hình thức kinh tế mới. Ngoài ra, còn chú trọng phát triển các nghề dệt, nghề làm đường, làm giấy, khắc bản in, thêu và làm lọng, thuộc da trâu, bò
Thủ công nghiệp nước ta được quan tâm và phát triển khá mạnh mẽ, đa dạng ngành nghề, sản phẩm phong phú, đẹp hơn. Đáp ứng nhu cầu thiết thực trong cuộc sống hàng ngày của nhân dân ta và trao đổi lấy nguồn thu. Tuy vậy cũng như thương nghiệp, thủ công nghiệp chính quyền Trịnh Nguyễn cũng lợi dụng sự phát triển và nguồn lợi của nó để phục vụ cho lợi ích riêng tư, ích kỉ của mình, đánh thuế nặng nề, một phần lớn sản phẩm làm ra chủ yếu đáp ứng cho quan lại. Những người thủ công lành nghề bị tập trung về sản xuất trong các thủ công nghiệp nhà nước theo chế độ lao dịch cưỡng bức, nô dịch hộ không thể phát huy được hết khả năng và trí sáng tạo của mình trong lao động, không cung cấp được những sản phẩm ra thị trường với tư cách là hàng hóa.
Do nhu cầu phát triển của kinh tế hàng hóa trong nước và tác động của luồng quan hệ mậu dịch quốc tế, thương nghiệp thế kỉ XVII – XVIII đã có bước phát triển đáng kể, biểu hiện bằng sự mở rộng của mạng lưới chợ địa phương, sự phong phú của lượng hàng hóa trao đổi, đặc biệt là sự tăng trưởng đột biến của hoạt động ngoại thương.
3.1.3. Tình hình văn hóa – chính trị - xã hội Đàng Trong
Trên lĩnh vực văn hóa:
Trên lĩnh vực tư tưởng, tín ngưỡng cổ truyền dân tộc, đạo Nho, đạo Phật: Nho giáo thời Trịnh – Nguyễn nó vẫn được coi trọng, nhưng không còn giữ được địa vị độc tôn nữa, giai cấp phong kiến đã làm biến dạng những tư tưởng tốt đẹp của Nho giáo, ra sức tiếp nhận mặt phản động của Nho giáo với mục đích ràng buộc, thắt chặt hành vi hoạt động tình cảm và lí trí con người theo ý muốn của chúng, đã kìm hãm, không phát huy được những giá trị tốt đẹp của dân tộc, trí tuệ con người, những tiến bộ của Nho giáo.
Do sự suy thoái của chế độ quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền, tranh chấp giữa các thế lực phe phái, thương nghiệp phát triển, thủ công nghiệp cùng quan hệ hàng hòa tiền tệ, ảnh hưởng của chủ nghĩa tư bản nên sự tồn tại của Nho giáo đã trở thành công cụ nguy hiểm của vua chúa. Thi cử ngày càng xa rời, xem thường tư tưởng Nho giáo trong “tứ thư”, “ngũ kinh”, Nho giáo ngày càng mai một, chỉ được cọi trọng ở Đàng Ngoài. Chúa Nguyễn, vẫn lấy Nho học để thi cử nhưng không có vai trò to lớn như ở phía Bắc, Phật giáo, Đạo giáo ở thế kỉ XV bị bó hẹp nay được phục hồi và phát triển mạnh, được các chúa Nguyễn rất coi trọng, đặc biệt là chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên. Đạo thiên chúa ở phương Tây bắt đầu truyền bá vào nước ta qua con đường buôn bán thế kỉ XVI. Hội truyền giáo nước ngoài và các công ty thương mại nước ngoài là công cụ bành trướng xâm lực của chủ nghỉa tư bản phương Tây. Alexandre de Rhodes từng nói “Đây là vị trí cần phải chiếm lấy và chiếm được vị trí này thì thương gia Châu Âu sẽ tìm được nguồn lợi nhuận và nguồn tài nguyên phong phú”. Thời gian đầu nó không được nhân dân ta chấp nhận, Trịnh - Nguyễn nhiều lần ra lệnh cấm, trục xuất đạo nhưng chúng vẫn hoạt động lén lút.
Thờ cúng ông bà tổ tiên, thờ làng là những tín ngưỡng cổ truyền tốt đẹp của nhân dân ta được lưu giữ và phát triển, vượt qua bạo sự tàn phá của kẻ thù xâm lăng để tồn tại phát triển, không hề bị mai một, thể hiện sức mạnh tinh thần tín ngưỡng cổ truyền của dân tộc.
Sự ra đời chữ Quốc Ngữ: Chữ quốc ngữ xuất hiện cùng với quá trình truyền đạo thiên chúa và thương mại vào nước ta. Trong quá trình phát triển dân tộc, tiếng Việt ngày càng phong phú đa dạng, trong sáng hơn, trên cơ sở đó các giáo sĩ phương Tây đã học tiếng Việt để giảng đạo và dùng chữ cái Latinh để ghi âm Tiếng Việt. Năm 1651 Alexandre de Rhodes cho xuất bản cuốn “Từ điển Việt - Bồ - La tinh” ở Rô ma (Ý), đánh dấu sự ra đời của chữ Quốc Ngữ. Trong khoảng thời gian đầu không có tác dụng lớn đối với sự phát triển văn hóa dân tộc và chỉ được lưu hành trong giới truyền đạo. Chữ Quốc Ngữ là một loại chữ rất khoa học và tiện dụng, có thể sử dụng nó để phát triển văn hóa, khoa học, nhưng giai cấp phong kiến với thái độ bảo thủ đã không xem trọng nó, không biết sử dụng nó để phát triển Đất Nước. Sự ra đời của nó thực sự là một đóng góp rất lớn cho nền văn học dân tộc sau này. Đây là một nhân tố khẳng định chủ quyền một dân tộc : lãnh thổ, con người, văn hóa và chữ viết .
Trên lĩnh vực văn học nghệ thuật: Đạt được nhiều thành tựu và có nét mới, văn học chữ Nôm phát triễn mạnh mẽ đại diện là Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đào Duy Từ Đánh dấu thắng lợi tiếng nói dântộc. Nền văn học dân gianphát triển phong phú đa dạng: ca dao, tục ngữ, các thể loại thơ: lục bát, song thất lục bát và nội dung cũng có nhiều biến đổi: tư tưởng nhân đạo và khuynh hướng trữ tình là những tư tưởng chủ đạo trong các tác phẩm văn học. Nghệ thuật ca múa nhạc, sinh hoạt văn hóa, trò chơi dân gian, tuồng chèo, hát phát triển. Kiến trúc, điêu khắc mang đậm phong cách dân gian.
Thi cử: chính quyền Trung ương vẫn chăm lo tổ chức các kì thi, chọn nhân tài phục vụ Đất Nước, củng cố chính quyền, dướithời Lê trung hưng, những người đỗ đạt được triều đình đãi ngộ rất hậu, nhưng chương trình học tập và nội dung thi cử theo lối từ chương sáo rỗng ít sát hợp thực tế, tình trạng gian lận thi xuất hiện Năm chính Hòa thứ 14 (1694) chúa Trịnh Căn cho khôi phục lại văn thơ thời Hồng Đức để chấm dứt tình trạng suy thoái của giáo dục. Trịnh Cương ra lệnh “phải tùy ý mà ra đầu bài, không theo lệ cũ, ”. Bởi vậy nền thi cử giáo dục được phục hồi và chỉnh đốn lại. Tính từ khoa thi chế khoa năm Giáp Dần, niên hiệu Thuận Bình (1554) đến khoa thi hội năm Đinh Mùi, niên hiệu Chiêu Thống thứ 1 nhà Lê trung hưng tổ chức 72 kì thi, 4 chế khoa: 1554; 1565; 1577; 1787; và 62 kì thi hội lấy đỗ 702 người[18] (http://kilobooks.com/newthread.php?f=16#_ftn18). Bộ máy quan lại cồng kềnh, mỗi kì thi đều lấy khá nhiều người, thiên về trọng võ hơn văn, mãi đến 1673 văn thần mới được chú trọng, theo Trần Thị Vinh “phương thức tuyển dụng quan lại trong bộ máy chính quyền Nhà Nước thế kỉ XVII – XVIII” thì chủ yếu theo con đường thi cử, tiến cử bảo cử. Hình thúc tiến cử đã làm cho bộ máy quan liêu phát triển do việc phong ấn và tiến cử bừa bãi. Do thiếu hụt ngân sách phục vụ cho chiến tranh nên việc mua bán quan chức phổ biến.
Trong lĩnh vực xã hội:
Đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, bị chi phối bởi chiến tranh. Để có nhân lực, vật lực phục vụ chiến tranh cả hai bên tham chiến đều tăng cường thu thuế, lao dịch. Chúa Trịnh sửa đổi chế độ thuế khoá vào các năm 1625, 1654, 1670, 1722 lúc đầu đánh thuế chủ yếu dựa vào số lượng, nhưng sau này được quy định nghiêm ngặt hơn, ruộng được phân ra từng loại “nhất nhị đẳng, tam đẳng, hạng cao khô, chua mặn, lầy lụt”[19] (http://kilobooks.com/newthread.php?f=16#_ftn19), đánh thuế cả ruộng tư, đem lại nguồn thu lớn cho nhà nước. Đối với nông dân tá điền không có ruộng, phải làm cho địa chủ thì nộp tô nặng nề, “một quan năm tiền đến ba quan, có khi 5 hoặc 8 quan / mẫu”[20] (http://kilobooks.com/newthread.php?f=16#_ftn20). Nhân dân phiêu tán, nhiều của cải, tính mạng con người bị đổ vào cuộc chiến “huynh đệ tương tàn”. Ở Đàng Trong do đất chưa khai phá còn rộng nhân dân có điều kiện dễ sinh sống hơn.
Trong thời gian này đã xuất hiện tầng lớp mới, hình thành nên lối sống mới. Do chính sách thuế khá nặng nề, yêu cầu chiến tranh đã hình thành nên tầng lớp thống trị đông đảo hơn: “cung nhân, hoạn quan, quan lại, công thần, hào phú làng xã”[21] (http://kilobooks.com/newthread.php?f=16#_ftn21) ra sức bóc lột nhân dân, bộ máy chính quyền cồng kềnh, tăng thêm gánh nặng lên người dân.
Thương nghiệp phát triển, nhất là Đàng Trong, tình hình giao lưu buôn bán trong nước và với các thương nhân nước ngoài phát triển mạnh mẽ, từng bước nâng cao đời sống nhân dân, đã hình thành tầng lớp thương gia khá giàu có. Do chính sách khác nhau của triều đình đối với thương nghiệp, họ không bỏ vốn vào sản xuất mà dùng tiền để mua quan tước và mua ruộng. Thủ công nghiệp phát triển đa dạng, hình thành tầng lớp thợ thủ công với trình độ tay nghề cao, được bổ sung vào làm cho triều đình, hoạt động khai thác hầm mỏ mạnh mẽ với nhiều phương thức khai thác mới, hình thành quan hệ chủ - thợ, sản xuất tập trung, thuê mướn có tính chất tư nhân .
Sự xuất hiện các tầng lớp mới, thay đổi giai cấp, tầng lớp trong xã hội kéo theo lối sống mới: với nền kinh tế cũ tự cung tự cấp, sống khép kín, khi tính chất sản xuất thay đổi với quan hệ hàng hóa - tiền tệ chi phối mạnh mẽ đến đời sống xã hội buộc nhân dân phải sống năng động hơn, thoát ra cảnh bế tắc, thói quen của phương thức sản xuất không phù hợp nữa. Khác với Đàng Ngoài, coi trọng đạo Nho luôn nhấn mạnh đến các giá trị của các nhóm xã hội như gia đình, làng xóm trong khuôn phép định sẵn lối sống cộng đồng, Đàng Trong trọng đạo Phật hình thành lối sống phóng khoáng.
Về mặt chính trị:
Chiến tranh làm tình hình chính trị bất ổn, đất nước hỗn loạn. Sau bảy lần giao chiến không phân thắng bại đã chia cắt đất nước thành hai miền. Trên danh nghĩa vua Lê là triều đại chính thống nhưng họ Trịnh chuyên quyền, lấn át vua, mọi việc trong triều đều do chúa Trịnh định đoạt. Ở Đàng Trong họ Nguyễn từng bước xây dựng cơ nghiệp tự chủ, độc lập với chính quyền Đàng Ngoài.
Tình hình bang giao với nước ngoài bị tác động. Với triều Minh triều đình vẫn thần phục, cống nạp, mặc dù lúc này triều Minh đang trong giai đoạn suy sụp, rối ren, nhưng vẫn chưa công nhận nền độc lập của ta, chỉ phong cho vua Lê chức An Nam đô thống sứ ty đô thống sứ và một quả ấn bằng bạc. Khi triều Minh sắp sụp đổ, mới phong là An Nam quốc Vương(1647). Bị nhà Thanh truy lùng, vua Minh sai sứ sang ta nhờ Trịnh Tráng cấp binh sĩ và lương thực, năm 1651 phong Trịnh Tráng là An Nam phó vương, sử ta phê phán nhà Minh “chỉ còn là một tý tro tàn, giở trò ăn xin để làm vui lòng người khác, tiện việc cho mình”, còn Lê – Trịnh thì “không biết rằng như thế là hết sức giúp chúa Kiệt làm điều đáng khinh bỉ”[22] (http://kilobooks.com/newthread.php?f=16#_ftn22). Sau khi nhà Thanh lên cầm quyền ở Trung Quốc, triều Lê vẫn tiếp tục cống nộp. Nhà Thanh nhiều lần sang xâm lấn, quấy rối nước ta nhưng triều Lê vẫn không có biện pháp gì ngăn cản, nhiều vùng đất của ta bị nhà Thanh chiếm. Với Ai Lao quan hệ với vị thế cao hơn, tạo mối thông gia ràng buộc, thần phục. Với phương Tây được mở rộng, đặc biệt các chúa Nguyễn đã có nhiều biện pháp giao hảo tốt đẹp, đặt quan hệ buôn bán. Chúa Nguyễn lại có những chính sách ngoại giao mềm mỏng, khéo léo với Chân Lạp và Chiêm Thành.
3.2. Chức năng đối ngoại
Thế kỉ XVI-XVIII thương nghiệp phát triển khá mạnh mẽ. Nền nông nghiệp tự cung tự cấp không làm cho xã hội phát triển mạnh lên, trong lúc đó luồng giao lưu buôn bán quốc tế cũng ảnh hưởng đến Đại Việt, thương nghiệp có điều kiện thâm nhập phát triển có lúc đạt mức cực thịnh, xóa bỏ sự độc tôn của nền sản xuất nông nghiệp.
Trong nước: Do sự phát triển sản xuất, sự lưu thông hàng hóa và tiền tệ trong nước ngày càng mở rộng. Nông phẩm và sản phẩm thủ công nghiệp đã đáp ứng nhu cầu mỗi người trong nước và một phần biến thành hàng hóa phục vụ lưu thông trên thị trường. Khắp làng xã, các chợ mọc lên rất nhiều, giữa các làng, các địa phương đã có sự giao lưu buôn bán với nhau “người miền xuôi thường chở gạo muối, hải sản, thuốc lào, bát đĩa ấm chén lên bán cho dân miền núi và mua các thứ lâm sản chở về miền xuôi”[23] (http://kilobooks.com/newthread.php?f=16#_ftn23). Cùng với đó, nhiều thành thị phát triển phồn thịnh, tập trung giao lưu buôn bán nhộn nhịp tạo nên “thứ nhất Kinh kì thứ nhì Phố Hiến”. Ngoài ra còn có Hội An ở Quảng Nam, Thành Hà (Huế ), Gia Định Với nhịp độ phát triển mạnh mẽ của thương nghiệp như lúc này có khả năng phát triển thành tư bản công nghiệp, nhưng nền kinh tế Việt nam lúc này căn bản vẫn còn mang tính tự nhiên và chính quyền phong kiến đôi lúc hạn chế thương nghiệp, mọi hoạt động buôn bán ở đây chủ yếu phục vụ vua quan và tầng lớp thống trị, thương gia không dám bỏ vốn vào phát triển sản xuất, để tiền mua chức quan, tậu ruộng .
Mở rộng giao lưu bôn bán với Trung Quốc, Nhật Bản là những nước thông thương với nước ta từ sớm và có quan hệ với các nước phương Tây đang tìm kiếm thị trường. Thương nghiệp phát triển, đem lại nguồn lợi lớn cho Vua Chúa “chúa thu được lợi nhuận lớn trong việc buôn bán này bằng thuế hàng hóa, và thuế hải khẩu ngài đặt ra và cả nước đều kiếm được nguồn lợi lớn không tả xiết”[24] (http://kilobooks.com/newthread.php?f=16#_ftn24), theo Jean Baptiste Tavernier nhận xét “người đàng ngoài họ tròn trặn trong việc buôn bán. Buôn bán với họ thật dễ chịu”[25] (http://kilobooks.com/newthread.php?f=16#_ftn25), cách thức trao đổi hàng hóa của nước ta làm các nước phương Tây cảm thấy quý mến.
Về hải cảng nước ta lúc đó “chỉ trong khoảng hơn 100 dặm, một chút mà người ta đếm được hơn 60 cảng, tất cả đều rất thuận tiện để cập bến và lên đất liền”[26] (http://kilobooks.com/newthread.php?f=16#_ftn26), tuy nhiên theo chúng tôi trong 60 cảng đó thì có lẽ thực chất bao hàm cả những nơi có tầu thuyền qua lại buôn bán, neo đậu nhưng ít, còn nếu xét về Cảng thì nó phải là nơi thuận lợi cho việc neo đậu của tầu thuyền, tránh gió bởi vậy nếu xét đúng tính chất, chức năng của một Cảng thì có lẽ số liệu trên chưa phản ánh đúng thực tế. chính quyền Trung ương vua Lê chúa Trịnh, đặc biệt là chúa Nguyễn đều có những chính sách phát triển thương nghiệp dù mức độ và thời gian thể hiện khác nhau. Chúa Nguyễn đã thực hiện phương châm mở cửa đối với thương gia nước ngoài thông thoáng, điều này chứng tỏ vị thế và bản lĩnh của Đại Việt, chính quyền chúa Nguyễn lúc bấy giờ.
Các thương nhân buôn bán theo lối hàng qua tay để kiếm lời. Hàng của họ bán vào nước ta gồm các sản phẩm công nghiệp: len, dạ, súng, đại bác, thủy tinh và các loại vũ khí, tơ lụa thuốc, đồ sứ Thương nhân các nước phương Tây đang tìm kiếm thị trường, nguyên liệu, cướp giật của cải và chuẩn bị cho sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản. Trong quan hệ buôn bán này chúng không bỏ qua một cơ hội nào để tiến hành âm mưu can thiệp và dòm ngó nước ta: Bồ Đào Nha liên kết với Trịnh đánh Nguyễn (1643), Hà Lan liên kết với Nguyễn chống Trịnh. Chúng ta không phủ nhận vai trò tích cực, thành quả to lớn mà thương nghiệp đem lại cho Đại Việt, đưa nước ta tiếp xúc với nền thương mại thế giới đang trên đà phát triển, là nhân tố quan trọng thúc đẩy phát triển sản xuất mở rộng thị trường, đem lại nhiều lợi ích cho đất nước. Nhưng cả Trịnh và Nguyễn đều muốn vận hành theo lợi ích của mình trong việc giành quyền lợi của nhau, với mối quan hệ thông thương kinh tế nước ta có điều kiện phát triển mạnh mẽ, nó chỉ có tác dụng tích cực cho một phần phát triển kinh tế, nguy hiểm hơn, tạo cơ hội cho các nước chủ nhĩa tư bản phương Tây lợi dụng xung đột, mâu thuẫn trong nước tìm cớ gây hại xâm lược nước ta.
Bản chất của các tập đoàn phong kiến, cát cứ luôn mở rộng địa vị sức mạnh của mình bằng mọi con đường, bện pháp. Các khoản thu nhập của triều đình chủ yếu do cống nạp của nhân dân mỗi vùng, muốn có nguồn thu lớn từ nhân dân buộc vua chúa phải có những chính sách phát triển kinh tế có hiệu quả. Nó là hậu phương quan trọng trong những cuộc chiến. Kinh tế không quyết định thắng lợi nhưng đóng vai trò to lớn, chi phối ít nhiều đến cục diện chiến tranh. So với vua Lê chúa Trịnh thực lực lúc đầu rất nhỏ bé, chúa Nguyễn phải ra sức tìm mọi cách phát triển thực lực của mình bên cạnh việc mở mang bờ cõi kết hợp xây dựng, phát triển kinh tế tạo nên những vùng đất màu mỡ từ những vùng hoang vu, thực lực chúa Nguyễn tăng lên rất nhanh đủ sức đối phó với họ Trịnh. Đối với Vua Lê chúa Trịnh nền kinh tế ban đầu khá mạnh, càng về sau chính quyền Lê Trịnh ít quan tâm đến, sức mạnh về thực lực ngày càng suy yếu.
Như vậy với việc phát triển kinh tế mạnh mẽ sẽ kết hợp được sức mạnh về vật chất và tinh thần, chứng tỏ được tầm quan trọng của kinh tế đối với các thế lực cát cứ. Trịnh – Nguyễn đều ra sức phát triển bằng nhiều biện pháp chính sách khác nhau. Trong quá trình đó họ đã để lại nhiều thành tựu quan trọng. Ngoại thương Việt Nam có bước phát triển mạnh mẽ ở thế kỉ XVII, nhưng đến thế kỉ XVIII thì bị hạn chế dần. Do những chính sách và cách thức tiến hành ngoại giao của cả hai Đàng có sự xa lánh và đề phòng, nên sự giao thương Đông – Tây mất sợi dây qua lại.
3.3. Vai trò của chính quyền chúa Nguyễn trong lịch sử dân tộc
3.3.1. Về chính trị
Lãnh thổ Đại Việt không ngừng dược mở rộng và kéo dài xuống phía nam tạo dựng lên một cơ đồ vững chãi về chính trị. Nông, công, thương, thủ công nghiệp phồn vinh. Nhờ vậy, tăng cường được nội lực phát triển ngoại lực khiến các nước láng giềng phải kiêng nể.
Thông qua buôn bán thương mại, các chúa Nguyễn đã được cung cấp một lượng lón vũ khí hiện đại cho quân đội từ các thương nhân người nước ngoài đặc biệt là Nhật Bản và Bồ Đào Nha để cản bước sự chinh phạt của chúa Trịnh, đánh bại các cuộc xâm lược Chiêm Thành, đánh tan hạm đội Hà Lan, Pháp vào đánh úp kinh thành Huế và dinh Quảng Nam năm 1644, uy danh của chúa Nguyễn lan truyền nhanh chóng theo đường biển làm cho các nước trong khu vực và phương Tây phải dè chừng.
Từ Thế kỉ XVII, châu thổ sông Hồng không còn là trung tâm độc nhất về văn minh của người Việt. Trung tâm Phú Xuân (Huê) hình thành phát triển với Thăng Long (Hà Nội). Đẩy trọng tâm chính trị, văn hóa, kinh tế về phương Nam.
3.3.2. Về kinh tế
Thông qua những chính sách cần thiết cho công cuộc khai khẩn đất hoang, tạo điều kiện cho thương nghiệp, nông nghiệp phát triển đã làm cho đời sống của nhân dân được nâng lên, bộ mặt kinh tế của Đàng Trong có sự “thay da đổi thịt” so với nền kinh tế lạc hậu của Đàng Ngoài.
Từ đầu thế kỷ XVI, nông nghiệp đã phát triển. Vùng đất Thuận Quảng một mẫu cũng thu được 90-120 gánh lúa, giáo sĩ Borri nhận xét: “Ở đây, mỗi năm có ba vụ lúa, đấy đủ và dồi dào đến nỗi không ai phải lam lũ ,vất vả để sinh sống, ai cũng sung túc”[27] (http://kilobooks.com/newthread.php?f=16#_ftn27). Vào thế kỷ XVII-XVIII, vùng đồng bằng sông Cửu Long là vựa lúa của Đàng Trong với năng suất đạt tới 100, 200, 300 lần như Lê Quý Đôn đã chép.
Thương nghiệp, do nhận thấy cơ sở của Đàng Trong khó tạo nên nội lực để chống chọi nổi trong cuộc đấu tranh không cân sức với lực lượng hơn hẳn của chúa Trịnh ở phía Bắc, chúa Nguyễn buộc phải đẩy mạnh tự do buôn bán. Sự mở cửa của chúa Nguyễn đã tạo điều kiện cho thương nghiệp phát triển. Các hải cảng mọc lên khắp các cửa biển để tập trung trao đổi và mua bán hàng hóa. “Chỉ trong khoảng hơn 100 dặm một chút mà người ta đếm được hơn 60 cảng, tất cả đều thuận lợi để tàu thuyền cập bến vào đất liền”[28] (http://kilobooks.com/newthread.php?f=16#_ftn28). Một loạt đô thị, thương cảng ra đời thu hút nhiều thuyền buôn và thương gia nước ngoài, kể cả các công ty tư bản phương Tây như Hà Lan, Anh, Pháp . trong đó nổi lên các cảng thị Phú Xuân - Thanh Hà (Thừa Thiên - Huế), Hội An (Quảng Nam), Nước Mặn (Bình Định), Vũng Lấm (Phú Yên), Gia Định (Thành phố Hồ Chí Minh), Cù Lao Phố (Đồng Nai), Mỹ Tho, Hà Tiên . góp phần thúc đẩy thương mại phát triển, hình thành mầm mống tư bản thương mại ở Việt Nam, tạo nên hướng đi mới trong việc phát triển kinh tế hàng hóa, tiền tệ.
Các chúa Nguyễn Hoàng (Chúa Tiên, Đoan Quận công: 1558-1613), Nguyễn Phúc Nguyên (Chúa Sãi, Thụy Quận công: 1613-1635), Nguyễn Phúc Lan (Chúa Thượng, Nhân Quận công: 1635-1648), Nguyễn Phúc Tần (Chúa Hiền, Dũng Quận công: 1648-1687) . có công lớn trong sự nghiệp khai phá và phát triển vùng đất mới, mở rộng lãnh thổ phía nam bao gồm các hải đảo ven bờ và quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa trên biển Đông.
Sự tồn tại và phát triển của xứ Đàng Trong và quyền lực cũng như nguồn lực của các chúa Nguyễn chủ yếu dựa vào ngoại thương. Nó tạo ra quan niệm, bước đi mới trong lịch sử dân tộc, vốn là một nước có nền kinh tế hàng hóa kém cỏi.
3.3.3. Về văn hóa
Trong tiến trình lịch sử Việt Nam, đây là giai đoạn lịch sử có nhiều biến động phức tạp của đất nước: nội chiến Trịnh – Nguyễn phân liệt đất nước thành Đàng Trong và Đàng Ngoài. Nền kinh tế văn hóa hai vùng phát triển trong sự giao lưu mạnh mẽ với khu vực và thế giới. Xu hướng này được thể hiện đặc biệt trong xứ Đàng Trong.
Từ khi vào Thuận Hóa, chúa Nguyễn chăm lo xây dựng bản sắc riêng có sự giao thoa văn hóa với Chiêm Thành và Chân Lạp, khẳng định chủ quyền của một vương triều tách biệt hoàn toàn với chính quyền Lê – Trịnh. Đời sống vật chất của người dân ở Đàng Trong có phần đầy đủ hơn so với nhân dân Đàng Ngoài. Bằng những chính sách an nông có hiệu quả chúa Nguyễn đã vực dậy vùng đất nghèo khó về mọi mặt, trở thành mảnh đất trù phú, phồn vinh, hưng thịnh. Cuộc sống của người dân được bảo đảm hơn trước, đa số là dân lưu vong từ phía bắc vào phía nam canh tác, trước chịu cảnh nghèo đói ở những vùng chiến tranh loạn lạc, sau theo chúa Nguyễn vào Nam canh tác, khai phá miền Nam. Do đó, họ cũng có một đời sống tinh thần khá phong phú.
Các công trình kiến trúc đền thờ, chùa tháp được xây dựng rất nhiều, người Đàng Trong tôn sùng đạo Phật, có ảnh hưởng chút ít của đạo Nho. Năm 1601 tu sửa chùa Thiên Mụ, năm 1774 chùa Giác Lâm được dựng lên, năm 1775 chùa Kim Chương ở Sài Côn.
Đời sống tinh thần của người dân Đàng Trong thoáng hơn, điều kiện nơi đây cho họ đầy đủ cuộc sống. Quá trình mở nước của chúa Nguyễn gắn liền với cuộc chinh phục Champa, Chân Lạp và các di thần nhà Minh vào Đàng Trong sinh sống, nên có ảnh hưởng văn hóa của nhau, đặc biệt chịu sự tác động rất lớn của nền văn hóa Champa, trong cách ăn mặc của người Đàng Trong có phần giống người Chăm, khi vương quốc Champa sụp đổ, để lại rất nhiều các đền thờ, chùa tháp đồ sộ cùng tín ngưỡng Bàlamôn chi phối toàn bộ đời sống tinh thần của người Chăm và các cư dân lân cận. Chính quyền Thuận Hóa rất chăm lo phát triển đạo Phật, năm 1696 chúa Nguyễn cho mời nhà sư Thích Đại Sán trụ trị ở chùa Trường Thọ, ở Quảng Đông sang truyền giáo cho dân Việt
Chúa Nguyễn khuyến khích các loại hình ca, múa nhạc và những hình thức sinh hoạt quen thuộc như đua thuyền, đánh vật, đánh đu, đấu võ phát triển khắp nơi bước vào giai đoạn phát triển huy hoàng. Trang phục của dân nơi đây chủ yếu là mặc vải bằng tơ lụa, kín đáo và giản dị “họ mặc tới năm hay sáu váy lụa trơn, cái nọ chồng lên cái kia và tất cả có màu sắc khác nhau”[29] (http://kilobooks.com/newthread.php?f=16#_ftn29). Nét nổi bật trong sinh hoạt văn hóa Đàng Trong mang đậm phong cách dân gian, phản ánh trung thực đời sống tình cảm của người lao động .
Nền văn hóa Đàng Trong có sự khác biệt so với Đàng Ngoài. Hình thành nên một thói quen, một lối sống mới của cư dân Đại Việt ở phía Nam. Sự phát triển mạnh mẽ văn hóa dân tộc là một trong những yếu tố khẳng định chủ quyền của một quốc gia độc lập, tự trị .
3.3.4. Về mặt xã hội
Cùng với biến đổi về kinh tế, văn hóa, xã hội Đàng Trong có nhiều biến chuyển mới. Ở Đàng Trong thương nghiệp rất phát triển, tình hình giao lưu buôn bán với các thương nhân nước ngoài được mở rộng, từng bước nâng cao đời sống nhân dân, qua đó hình thành tầng lớp thương gia khá giàu có. Đây là tầng lớp mới xuất hiện trong xã hội khác. Do chính sách khác nhau của triều đình đối với thương nghiệp nên họ không bỏ vốn vào sản xuất mà dùng tiền để mua quan tước. Hình thành tầng lớp thợ thủ công với trình độ tay nghề cao, được bổ sung vào làm cho triều đình, hoạt động khai thác hầm mỏ mạnh mẽ với nhiều phương thức khai thác mới đã hình thành quan hệ chủ - thợ, sản xuất tập trung, thuê mướn có tính chất tư nhân .
Sự xuất hiện các tầng lớp mới và thay đổi giai cấp tầng lớp trong xã hội kéo theo lối sống mới: với quan hệ hàng hóa - tiền tệ chi phối mạnh mẽ đến đời sống xã hội buộc nhân dân phải sống năng động hơn. Đạo Phật được coi trọng, hình thành lối sống phóng khoáng, Hickey nhấn mạnh “cho nên cái làng mới thành lập bởi những người thấp hèn chứ không phải là những nhà quý tộc của xã hội truyền thống những người đi tiên phong ít bị ràng buộc bởi đẳng cấp xã hội quá chật hẹp” hoàn cảnh đó khiến con người sống cởi mở, tự do hơn.