PDA

Xem tài liệu đầy đủ : Báo Cáo DT083 - Thực trạng và giải pháp thu hút Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam



Ghost
04-11-2010, 19:43
LỜI MỞ ĐẦU

Vốn là điều kiện hàng đầu của tăng trưởng của mọi quốc gia. Đối với Việt Nam để đạt được tốc độ tăng trưởng cao và ổn định cần phải có một khối lượng vốn rất lớn. Vì thế trong bối cảnh nền kinh tế còn kém phát triển, khả năng tích luỹ thấp thì việc tăng cường huy động các nguồn vốn nước ngoài để bổ xung cho tổng vốn đầu tư phát triển có ý nghĩa rất quan trọng, trong đó phải kể đến vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). FDI có vai trò hết sức quan trọng, nó là nguồn bổ xung vốn cho đầu tư, là một cách để chuyển giao công nghệ, là một giải pháp tạo việc làm và thu nhập cho người lao động, tạo nguồn thu cho ngân sách và thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Nhận thức đúng vị trí và vai trò to lớn của FDI, chính phủ Việt Nam đã ban hành chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, đồng thời tạo mọi diều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Chúng ta thực hiện đa dạng hoá và đa phương hoá hợp tác đầu tư với nước ngoài hai bên cùng có lợi. Việt Nam coi vấn đề huy động và sử dụng có hiệu quả FDI trong tổng thể chiến lược tăng trưởng và phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay là một trong những nhiệm vụ chiến lược trọng yếu nhất. Nó góp phần thực hiện có hiệu quả kế hoạch 5 năm (2001-2005), là bước mở đầu quan trọng trong việc thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm 2001-2010 –chiến lược đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nhận thấy vai trò quan trọng của việc đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam em đã mạnh dạn chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp thu hút Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam”.

Trong bài viết này em xin được trình bày những vấn đề sau:

Chương I: Tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài
Chương II: Thực trạng của thu hút FDI đến phát triển kinh tế Việt Nam thời kỳ 1996-2000
Chương III: Một số phương hướng và biện pháp để thu hút FDI cho phát triển kinh tế Việt Nam thời kỳ 2001-2005

Được sự hướng dẫn tận tình của Th.S. Nguyễn Thị Thanh Hiếu em đã hoàn thành đề tài này .Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do khả năng và thời gian có hạn nên đề án không thể tránh khỏi những sai sót nhất định. Vì vậy em rất mong được sự góp ý của cô để đề án được hoàn thiện đầy đủ hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!

Ghost
04-11-2010, 19:44
MỤC LỤC TÀI LIỆU

Chương I. Tổng quan về FDI
I. Lý luận chung về FDI
1. Khái niệm về FDI
2. Vị trí và tác động kinh tế của FDI
II. Lý luận về FDI cho phát triển kinh tế ở Việt Nam
1. Vốn FDI đóng vai trò quan trọng cho phát triển kinh tế Việt Nam
2. Vai trò và ý nghĩa của FDI tại Việt Nam

Chương II. Thực trạng của FDI ở Việt Nam giai đoạn 1996 – 2000
I. Đánh giá chung về vốn FDI tại Việt Nam thời kỳ 1996 – 2000
1. Mục tiêu phát triển kinh tế Việt Nam thời kỳ 1996 – 2000
2. Thực trạng vốn FDI thời kỳ 1996 – 2000
3. Kết quả đạt được
II. Tác động của vốn FDI cho quá trình phát triển kinh tế trong thời gian qua
1. Cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, tăng cường xuất khẩu, tăng thu cho ngân sách
2. Tăng thêm việc làm và thu nhập cho người lao động
3. Tác động tích cực tới chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hoá
4. Tác động tới chuyển giao công nghệ
III. Một số hạn chế của hoạt động thu hút FDI vào Việt Nam
1. Những hạn chế của hệ thông pháp luật ĐTNN tại Việt Nam
2. Những hạn chế của quá trình thực hiện

Chương III. Một số phương hướng và biện pháp nhằm thu hút vốn FDI đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế Việt Nam thời kỳ 2001 – 2005
I. Mục tiêu phát triển kinh tế và nhu cầu vốn đầu tư cho PTKT Việt Nam
1. Mục tiêu PTKT-XH thời kỳ 2001 – 2005
2. Dự báo nhu cầu vốn đầu tư cho PTKT Việt Nam thời kỳ 2001 – 2005
II. Phương hướng để thu hút FDI cho PTKT Việt Nam thời kỳ 2001 – 2005
1. Mở rộng quan hệ với các đối tác đầu tư nước ngoài
2. Nhà nước cần hướng FDI vào những lĩnh vực sản xuất hàng hoá dịch vụ có công nghệ tiên tiến có tỷ lệ xuất khẩu cao
3. Khuyến khích nhà ĐTNN bỏ vốn vào các khu vực địa bàn còn đang gặp khó khăn về kết cấu hạ tầng, điều kiện tự nhiên không thuận lợi
III. Những giải pháp để thu hút vốn FDI cho PTKT Việt Nam thời kỳ 2001 – 2005
1. Tiếp tục đổi mới chính sách tăng cường thu hút FDI vào Việt Nam
2. Tiếp tục đổi mới về tổ chức và thủ tục hành chính để tăng cường thu hút FDI vào Việt Nam
3. Quy hoạch thu hút FDI
4. Nâng cấp và xây mới kết cấu hạ tầng để thu hút nhiều hơn FDI
IV. Một số kiến nghị
Kết luận
(42 TRANG)

Ghost
04-11-2010, 19:44
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI


I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1. Khái niệm chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài :
Mọi quá trình sản xuất đều cần phải có hai yếu tố tư liệu sản xuất và sức lao động. Thiếu hai yếu tố đó thì sẽ không tồn tại quá trình sản xuất hàng hoá. Để có được hai yếu tố cơ bản đó vấn đề đặt ra là cần có vốn đầu tư và thực hiện hoạt động đầu tư. Vốn đầu tư dùng để sản xuất hàng hoá, mua nhà xưởng, mua thiết bị .v.v Vốn có khác nhau về quy mô hay cơ cấu song là điều cần thiết đối với mọi quá trình sản xuất, mọi quốc gia nhất là đối với những cơ sở mới bắt đầu hình thành và với những quốc gia còn ở trình độ lạc hậu chưa hoàn thành quá trình công nghiệp hoá trong đó có Việt Nam.
Vốn đầu tư trong nền sản xuất hàng hoá là vốn tiền tệ được tích luỹ bằng nguồn vốn của các doanh nghiệp, tiền tiết kiệm của dân và nguồn vốn huy động từ các nguồn khác, được đưa vào sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh, trong hoạt động kinh tế xã hội nhằm đạt hiệu quả kinh tế nhất định. Vốn đầu tư có thể được huy động từ trong nước cũng như có thể được huy động từ nước ngoài.Trong điều kiện quốc tế hoá đời sống kinh tế được đẩy mạnh như thời đại ngày nay thì vốn nước ngoài ngày càng phổ biến và có vai trò không nhỏ. Mặc dù đứng về lâu dàI thì vốn trong nước luôn đóng vai trò quyết định. Vốn đầu tư được sử dụng để phục vụ cho một mục đích nhất định căn cứ vào những tiêu thức nhất định người ta có thể phân chia đầu tư thành nhiều loại trong đó có đầu tư trực tiếp nước ngoài .
Đầu tư trực tiếp là đầu tư trong đó người bỏ vốn trực tiếp tham gia điều hành qui trình thực hiện và có thể quyết định toàn bộ hoạt động nếu là xí nghiệp 100% vốn của mình hoặc tham gia quyết định nếu là xí nghiệp liên doanh.Trong đầu tư trực tiếp người có vốn có thể bỏ vốn vào để làm tăng thêm năng lực sản xuất mới song cũng có thể mua lại một số cổ phần để hy vọng
Được lợi tức cổ phần .
Trong đầu tư trực tiếp người có vốn bỏ ra có thể là người trong nước mà cũng có thể là người nước ngoài. Trong trường hợp vốn và người có vốn là người nước ngoài thì hoạt động đầu tư trực tiếp đó là đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Như vậy đầu tư trực tiếp nước ngoài là đầu tư trực tiếp do nguồn vốn từ nước ngoài mà chủ thể của nó là tư nhân hay nhà nước hoặc các tổ chức quốc tế được nước chủ nhà cho phép đầu tư vào những ngành hoặc những lĩnh vực nào đó của một nước nhằm thực hiện mục tiêu nhất định.
Ở Việt Nam, văn bản pháp luật đầu tiên về đầu tư trực tiếp nước ngoài là điều lệ về đầu tư nước ngoài kèm theo nghị định số 115/CP ngày 18/4/1977. Điều lệ này không nêu định nghĩa cụ thể về đầu tư trực tiếp nước ngoài nhưng trong tư tưởng của các quy phạm thì khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng giống như khái niệm được ghi nhận sau này trong luật đầu tư nước ngoài năm 1987: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc tổ chức, nhân nước ngoàI trực tiếp đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bằng bất kỳ tài sản được Chính Phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc xí nghiệp 100% vốn nước ngoài”.
1.1. Đặc điểm của FDI.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài có một số đặc điểm sau:
- Hoạt động FDI không chỉ đưa vốn vào nước tiếp nhận đầu tư mà còn có cả công nghệ kỹ thuật, bí quyết kinh doanh, sản xuất, trình độ quản lý
- Chủ đầu tư nước ngoài phải đóng một lượng vốn tối thiểu vào vốn pháp định tuỳ theo quy định của luật đầu tư nước ngoài ở từng nước, để họ có quyền trực tiếp tham gia điều hành, quản lý. Ví dụ luật đầu tư của Việt Nam quy định: “Số vốn góp tối thiểu của phía nước ngoài phải bằng 30%vốn pháp định của dự án .
- Quyền quản lý, điều hành doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phụ thuộc vào vốn góp, nếu đóng góp 100% thì xí nghiệp hoàn toàn do chủ đầu tư nước ngoài điều hành.
- Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp quyết định mức lợi nhuận của nhà đầu tư. Lời và lỗ được chia theo tỉ lệ góp vốn sau khi đã nộp thuế lợi tức cho nước chủ nhà.
- Nguồn vốn FDI được sử dụng theo mục đích của chủ thể đầu tư nước ngoài trong khuôn khổ luất đầu tư nước ngoài của nước sở tại. Nước tiếp nhận đầu tư chỉ có thể định hướng một cách gián tiếp việc sử dụng vốn đó vào những mục đích mong muốn thông qua các công cụ: thuế, giá thuê đất, chính sách để khuyến khích hay hạn chế đầu tư trực tiếp nước ngoài vào một ngành nào đó.
- Việc tiếp nhận FDI không gây nên tình trạng nợ nước ngoài cho nước chủ thể, bởi nhà đầu tư nước ngoài chịu trách nhiệm trực tiếp trước hoạt động sản xuất kinh doanh của họ.
1.2. Ưu điểm của hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài .
* Về giá đầu tư trực tiếp nước ngoài .
- Cho phép chủ đầu tư nước ngoài ở một mức độ nhất định (phụ thuộc vào tỉ lệ góp vốn) tham đầu tư trực tiếp nước ngoàiự vào điều hành quá trình kinh doanh của xí nghiệp nên họ trực tiếp kiểm soát sự hoạt động và đưa ra quyết định có lợi nhất cho vốn đầu tư mà họ bỏ ra. Nếu môi trường đầu tư ổn định các chủ đầu tư nước ngoài thích bỏ 100% vốn đầu tư.
- Giúp cho nhà đầu tư nước ngoài dễ chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ và nguồn cung cấp nguyên liệu của nước chủ nhà.
- Tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch vì thông qua đâù tư trực tiếp mà họ tạo được các xí nghiệp nằm bên “ trong lòng” các nước thi hành chính sách bảo hộ mậu dịch.
* Về phía nước tiếp nhận đầu tư.
- Giúp tăng cường khai thác vốn của từng chủ đầu tư nước ngoài. Nhiều nước thiếu vốn trầm trọng nên đối với hình thức đầu tư trực tiếp không quy định mức đóng góp tối đa của mỗi chủ đầu tư, thậm chí đóng góp càng nhiều càng được hưởng các chính sách ưu đãi về thuế của nước chủ nhà .
- Giúp tiếp thu được công nghệ tiên tiến và kinh nghiệm quản lý kinh doanh của các chủ đầu tư nước ngoài.
- Nhờ có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cho phép nước chủ nhà có điều kiện khai thác tốt nhất những lợi thế của mình về taì nguyên, vị trí, mặt nước
1.3. Một số hạn chế của đầu tư trực tiếp nước ngoài .
Bên cạnh những ưu điểm thì hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng có những hạn chế nhất định:
- Nếu đầu tư vào môi trường bất ổn định về kinh tế và chính trị thì chủ đầu tư dễ bị mất vốn.
- Nếu nước chủ nhà không có một quy hoạch đầu tư cụ thể và khoa học dẫn tới sự đầu tư tràn lan kém hiệu quả, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức và nạn ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Vì hiện nay ở các nước tư bản phát triển thực hiện sự kiểm soát gắt gao những dự án gây ô nhiễm môi trường, nên xu thế nhiều nhà tư bản nước ngoài đã và đang chuyển giao những công nghệ độc hại sang các nuức kém phát triển.
- Mục đích của nhà đầu tư là lợi nhuận nên họ chỉ đầu tư vào nơi có lợi nhất. Vì thế nhiều khi lượng vốn nước ngoài đã làm gia tăng thêm sự mất cân đối giữa các vùng nông thôn và thành thị. Sự mất cân đối này sẽ gây nên sự bất ổn định về chính trị.
- Nước chủ nhà có nguy cơ trở thành nơI tiếp nhận những công nghệ cũ, lạc hậu của nước ngoài.