PDA

Xem tài liệu đầy đủ : Báo Cáo Thực trạng và giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng nông thủy sản sang thị trường Trung Quốc



Mr BA
03-11-2010, 09:41
Đề tài: Thực trạng và giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng nông thủy sản sang thị trường Trung Quốc


MỤC LỤC

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CHUNG VỀ LÝ THUYẾT XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG SẢN VÀ CHƯƠNG TRÌNH THU HOẠCH SỚM GIỮA AFTA VÀ TRUNG QUỐC - VAI TRÒ QUAN TRỌNG CỦA THỊ TRƯỜNG TRUNG QUỐC
1.1. Lý thuyết về xuất khẩu hàng hóa nói chung
1.1.1. Các quan điểm về thương mại quốc tế và xuất khẩu hàng hóa
1.1.2 Các lý thuyết về thương mại quốc tế

1.1.2. Sự cần thiết của hoạt động xuất khẩu đối với nền kinh tế quốc dân
1.1.3. Vai trò của hoạt động xuất khẩu hàng hóa đối với một quốc gia
1.1.4. Các hình thức xuất khẩu
1.1.5. Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động xuất khẩu
1.2. Tổng quan về chương trình thu hoạch sớm kí kết giữa AFTA và Trung Quốc
1.2.1. Giới thiệu chung về ACFTA và EHP
1.2.2. Những thuận lợi do EHP mang lại cho Việt Nam
1.3.3 Những thách thức từ việc thực hiện EHP đối với Việt Nam
1.3.4. Tác động của Chương trình Thu hoạch sớm với quan hệ thương mại Việt Nam-ASEAN
1.4. Vai trò của thị trường Trung Quốc đối với hàng nông thủy sản xuất khẩu của Việt Nam
1.5. Kinh nghiệm xuất khẩu nông thủy sản hàng hóa của Thái Lan sang Trung Quốc


CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG SẢN CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG TRUNG QUỐC DƯỚI LỘ TRÌNH THỰC HIỆN CỦA CHƯƠNG TRÌNH THU HOẠCH SỚM
2.1. Tình hình xuất khẩu hàng nông thủy sản của Việt Nam sang Trung Quốc
2.1.1. Kim ngạch xuất khẩu
2.1.2. Phương thức mua bán
2.2. Đánh giá, nhận xét
2.2.1. Những lợi thế của hàng nông thủy sản Việt Nam khi cạnh tranh trên thị trường Trung Quốc
2.2.2. Những bất lợi của hàng nông thủy sản Việt Nam khi cạnh tranh trên thị trường Trung Quốc
2.2.3. Những hạn chế trong quá trình thực hiện EHP
2.2.4. Nguyên nhân của những hạn chế trong quá trình thực hiện EHP


CHƯƠNG III: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG KHAI THÁC CÁC THUẬN LỢI DO CHƯƠNG TRÌNH THU HOẠCH SỚM ĐEM LẠI NHẰM THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG SẢN SANG TRUNG QUỐC

3.1. Định hướng xuất khẩu hàng nông thủy sản của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc
3.2. Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng nông thủy sản của Việt Nam vào Trung Quốc dưới tác động của Chương trình thu hoạch sớm
3.2.1. Giải pháp từ phía nhà nước
3.2.2. Giải pháp từ phía doanh nghiệp
3.2.3. Giải pháp cụ thể đối với một số mặt hàng
KẾT LUẬN
(53 TRANG)

Mr BA
03-11-2010, 09:42
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CHUNG VỀ LÝ THUYẾT XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG SẢN VÀ CHƯƠNG TRÌNH THU HOẠCH SỚM GIỮA AFTA VÀ TRUNG QUỐC - VAI TRÒ QUAN TRỌNG CỦA THỊ TRƯỜNG TRUNG QUỐC
1.1 Lý thuyết về xuất khẩu hàng hóa nói chung
1.1.1. Các quan điểm về thương mại quốc tế và xuất khẩu hàng hóa
Thương mại có nghĩa là sự trao đổi hàng hóa giữa các bên. Nếu các bên tham gia trao đổi hàng hóa cùng cư trú trên một quốc gia thì gọi là thương mại nội địa. Nếu các bên tham gia trao đổi hàng hóa cư trú trên hai quốc gia khác nhau thì hoạt động thương mại này mang tính quốc tê.
Thương mại quốc tế là sự trao đổi hàng hóa dịch vụ giữa các nước thông qua mua bán. Sự trao đổi đó là một hình thức của quan hệ xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa những người sản xuất hàng hóa riêng biệt của các quốc gia.
Trong đó. xuất khẩu hàng hóa dịch vụ là một khía cạnh trong quan hệ thương mại của một nước có mang tính chất quốc tê. Đó là việc hàng hóa và dịch vụ của quốc gia đó được đưa ra tiêu thụ ở nước ngoài hoặc sản xuất nhằm phục vụ mục đích tiêu dùng của người nước ngoài ở trong nước. Xuất khẩu được coi là hình thức thâm nhập thị trường nước ngoài ít rủi ro và chi phí thấp. Dưới giác độ kinh doanh, xuất khẩu là việc bán các hàng hóa và dịch vụ, dưới giác độ phi kinh doanh như làm quà tặng hoặc viện trợ không hoàn lại thì hoạt động đó lại là việc lưu chuyển hàng hóa và dịch vụ qua biên giới quốc gia. Trong kinh doanh, hoạt động xuất khẩu diễn ra dưới hai hình thức là xuất khẩu trực tiếp và xuất khẩu gián tiếp. Những hình thức này sẽ được các nhà xuất khẩu sử dụng là công cụ đê thâm nhập thị trường quốc tế.
1.1.2 Các lý thuyết về thương mại quốc tế
Thương mai quốc tế đã ra đời cách đây hàng ngàn năm, nhưng phải đến thế kỷ 15 thì mới xuất hiện những nỗ lực nhằm giải thích nguồn gốc và lợi ích từ thương mại quốc tế. Ngày nay, những nỗ lực nhằm hoàn chỉnh và phát triển các lý thuyết về thương mại quốc tế vẫn đang được tiếp tục. Dướ đây là hệ thống các lý thuyết thương mại quốc tế đã tồn tại theo trình tự thời gian.
Chủ nghĩa trọng thương là lý thuyết thương mại cho rằng một nước cần duy trì cán cân thương mại thặng dư để gia tăng lượng của cải (bao gồm vàng bạc và các kim loại quý khác) của mình. Để đạt được mục tiêu đó, chính phủ cần thi hành chính sách can thiệp nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu và hạn chế hoạt động nhập khẩu của quốc gia.
Theo lý thuyết lợi thế tuyệt đối của A.Smith, khả năng của một quốc gia có thể sản xuất một mặt hàng có hiệu quả cao hơn bất kỳ quốc gia nào khác được gọi là lợi thế tuyệt đối của quốc gia đó. Theo lý thuyết này thì một nước có thể tập trung sản xuất những mặt hàng mà mình có lợi thế tuyệt đối và sau đó trao đổi với các quốc gia khác nhằm thu về những hàng hóa mà mình không tự sản xuất ra. Thương mại tự do dựa trên lợi thế tuyệt đối sẽ giúp mang lại lợi ích cho tất cả các nước tham gia.
Một nước có lợi thế so sánh kho nước đó không có được khả năng sản xuất một mặt hàng nào đó hiệu quả hơn các nước còn lại nhưng hiệu quả hơn so với các mặt hàng khác. Lý thuyết lợi thế so sánh của D. Ricardo cho rằng thương mại tự do luôn mang lại lợi ích cho các bên tham gia, ngay cả khi một nướ tỏ ra kém lợi thế hơn trong việc sản xuất tất cả các mặt hàng.
Lý thuyết tỷ lệ các yếu tố cho rằng quốc gia sẽ sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng sử dụng nhiều nguồn lực dồi dào sẵn có của quốc gia và nhập khẩu những mặt hàng đòi hỏi sử dụng nhiều nguồn lực khan hiếm của quốc gia đó, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất, toàn dụng nguồn lực trong nước.
Lý thuyết chu kì sống của sản phẩm phát biểu rằng ngay sau khi ra đời thì sản phẩm mới được sản xuất ngay tại nước phát minh ra nó. Khi một sản phẩm trải qua các giai đoạn khác nhau trong chu kỳ sống của nó thì công nghệ sản xuất ra nó ngày càng được phổ biến và quá trình sản xuất ra sản phẩm được phổ biến tới nhiều quốc gia khác nhau nhằm khai thác các yếu tố đầu vào cho sản xuất rẻ theo lợi thế của từng địa điểm sản xuất.




Lý thuyết mới về thương mại cho rằng chuyên môn hóa sản xuất và hiệu quả tăng dần theo quy mô sẽ mang lại lợi ích, các công ty đầu tiên ra nhập thị trường nào đó có thể tạo ra rào cản đối với các công ty khác và chính phủ cần hỗ trợ các doanh nghiệp của nước mình trong quá trình tạo môi trường phát triển lành mạnh và thuận lợi.
Lý thuyết lợi thế cạnh tranh của quốc gia lại cho rằng khả năng cạnh tranh của một ngành sản xuất của quốc gia phụ thuộc vào khả năng sáng tạo và đổi mới của ngành đó. Hình thoi Porter chỉ ra bốn nhóm nhân tố chính mà mỗi quốc gia bao gồm: Chiến lược, cơ cấu và cạnh tranh giữa các công ty;
Điều kiện về các yếu tố sản xuất; Điều kiện cầu; Các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan. Bốn nhóm nhân tố này đều tồn tại ở mỗi quốc gia với mức độ khác nhau và nhóm các nhân tố này hình thành nên khả năng cạnh tranh của quốc gia.
1.1.2. Sự cần thiết của hoạt động xuất khẩu đối với nền kinh tế quốc dân
Hoạt động xuất khẩu là hoạt động tất yếu khách quan trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển của đất nước. Trong lịch sử phát triển kinh tế thế giới đã khẳng định một đất nước phát triển một cách nhanh chóng và bền vững ngoài việc phải khai thác tối đa tiềm năng trong nước, còn phải biết tận dụng những tiến bộ của khoa học kĩ thuật của kinh tế thế giới, phát huy lợi thế kinh tế trong nước thông qua hoạt động xuất nhập khẩu, trong đó xuất khẩu đóng vai trò là nhân tố tiên quyết, mang tính đầu tàu thúc đẩy tăng thu nhập quốc dân.
Đặc biệt trong thời đại ngày nay, sự tham gia vào phân công lao động quốc tế và hợp tác quốc tế của một nước sẽ góp phần phát huy tối đa năng lực cạnh tranh của nước đó trên trường quốc tế. Trong bối cảnh đó, xu hướng toàn cầu hóa với sự tự do dần được nới rộng trong thương mại và đầu tư quốc tế đang diễn ra với tốc độ ngày càng cao khiến cho các quốc gia và khu vực luôn phải vận động trong một mối liên kết hữu cơ chặt chẽ. Và do đó tỷ trọng xuất nhập khẩu, đặc biệt là tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu trên tổng số thu nhập quốc dân luôn là yếu tố quan trọng trong quá trình phát triển nền kinh tế của quốc gia đó.
1.1.3. Vai trò của hoạt động xuất khẩu hàng hóa đối với một quốc gia
Đóng góp lớn và dễ nhận thấy nhất của hoạt động xuất khẩu đối với nền kinh tế quốc dân chính là xuất khẩu luôn đem lại một nguồn thu ngoại tệ chủ yếu, đáp ứng các nhu cầu nhập khẩu, cải tiến hạ tầng kỹ thuật , nâng cao sức sản xuất và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Trên thực tế, nguồn vốn dùng đê nhập khẩu có thể được hình thành từ các nguồn khác nhau như: vay nợ và viện trợ nước ngoài, vốn đầu tư nước ngoài, tiết kiệm ngoại tệ trong nước, thu từ các hoạt động xuất khẩu Trong các nguồn thu nói trên, rõ rang nguồn có thể chủ động tạo ra được và đóng vai trò quyết định của quốc gia chính là nguồn thu từ hoạt động xuất khẩu.
Xuất khẩu cũng đóng vai trò thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất và tiêu dung. Cơ cấu sản xuất và tiêu dung trên thế giới đã thay đổi một cách mạnh mẽ. Đó là thành quả của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật. Sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa phù hợp với sự chuyển dịch của nền kinh tế thế giới là một tất yếu đối với mọi quốc gia trên con đường phát triển. Trong bối cảnh đó người ta thiên về xua hướng coi trọng thị trường, đặc biệt là thị trường thế giới, đây là nhân tố quan trọng để tổ chức sản xuất. Điều đó có tác động tích cực đến cự dịch chuyển cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển. Sự tác động này thể hiện ở các mặt sau đây:
- Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác phát triển thuận lợi. Chẳng hạn khi phát triển ngành dệt, xuất khẩu sẽ tạo điều kiện và cơ hội đầy đủ cho việc phát triển ngành sản xuất nguyên liệu như ngành bông, sợi, hay thuốc nhuộm. Sự phát triển của ngành chế biến thực phẩm xuất khẩu có thể sẽ kéo theo sự phát triển của các ngành công nghiệp chế tạo thiết bị phục vụ nó.
- Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp các yếu tố đầu vào cho sản xuất, tạo ra những tiền đề kinh tế kỹ thuật nhằm nâng cao năng lực sản xuất trong nước.
- Thông qua xuất khẩu hàng hóa, quốc gia tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả và chất lượng, qua đó buộc các nhà sản xuất trong nước phải tổ chức lại sản xuất, liên tục đổi mới và hoàn thiện khâu quản lý sản xuất kinh doanh, ình hình cơ chế sản xuất thích nghi với thị trường.
- Xuất khẩu có tác động tích cực tới giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống dân cư. Sản xuất hàng xuất khẩu là nơi thu hút nhiều lao động vào làm việc và có thu nhập không thấp, tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu dung thiết yếu, phục vụ đời sống và đáp ứng nhu cầu ngày một phong phú của xã hội.
Xuất khẩu cũng là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại của đất nước. Xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại khác có tác động qua lại lẫn nhau. Thông thường hoạt động xuất khẩu xuất hiện sớm hơn các hoạt động kinh tế khác và tạo điều kiện thúc đẩy các quan hệ này phát triển. Chẳng hạn, hoạt động xuất khẩu thúc đẩu quan hệ đầu tư nước ngoài, mở rộng vận tải quốc tế Mặt khác chính các hoạt động kinh tế đối ngoại này lại chính là tiền đề cho quá trình quay vòng mở rộng của hoạt động xuất khẩu.
Hoạt động xuất khẩu đảm bảo sự phát triển bền vững và nhanh chóng đối với nền kinh tế quốc dân, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, tạo them việc làm, tăng thêm thu nhập và nguồn thu ngoại tệ cho nền kinh tế quốc dân, qua đó nâng cao đời sống dân cư.
Hoạt động xuất khẩu đã khai thác triệt để lợi thế so sánh của từng quốc gia, đạt quy mô tối đa cho mỗi ngành sản xuất, tạo điều kiện xây dựng các ngành kinh tế mũi nhọn, nâng cao năng lực lao động và hạ giá thành sản phẩm, thúc đẩy các nhân tố phát triển theo chiều sâu, trao đổi và ứng dụng nhanh các công nghệ mới, thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài, nâng cao tốc độ tăng trưởng và hiệu quả của nền kinh tế quốc dân.