Đề tài: Thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng nhập khẩu thiết bị điện gia dụng tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại An Quân
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
CHƯƠNG I. NHỮNG NỘI DUNG PHÁP LÝ CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG XUẤT NHẬP KHẨU
I. VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ
1. Vai trò của hoạt động xuất khẩu:
2. Vai trò của hoạt động nhập khẩu :
II. HỢP ĐỒNG XUẤT NHẬP KHẨU
1. Khái niệm
2. Đặc điểm
3. Nguồn luật điều chỉnh
3.1. Luật quốc gia
3.2. Luật quốc tế
3.3. Tập quán thương mại quốc tế
3.4. Tiền lệ pháp (án lệ) về thương mại
III. KÝ KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG XUẤT NHẬP KHẨU THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM
1. Ký kết Hợp đồng xuất nhập khẩu:
1.1. Nguyên tắc ký kết
1.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng
2. Thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu
2.1. Nguyên tắc thực hiện
2.2. Nghiệp vụ thực hiện
3. Trách nhiệm pháp lý đối với vi phạm hợp đồng xuất nhập khẩu:
3.1. Các yếu tố cấu thành trách nhiệm do vi phạm HĐ xuất nhập khẩu :
3.2. Các hình thức trách nhiệm
3.3. Các trường hợp miễn trách
4. Giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng xuất nhập khẩu:
CHƯƠNG II. THỰC TIỄN KÝ KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG NHẬP KHẨU THIẾT BỊ ĐIỆN GIA DỤNG TẠI CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI AN QUÂN
I. KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY
1. Địa vị pháp lý của công ty
1.1. Một số thông tin chủ yếu về Công ty TNHH Thương mại An Quân:
1.2. Quyền hạn và nghĩa vụ của Công ty
2. Cơ cấu tổ chức, bộ máy của công ty
3. Tình hình lao động và tiền lương tại công ty
4. Hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
II. KÝ KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG NHẬP KHẨU THIẾT BỊ ĐIỆN GIA DỤNG TẠI CÔNG TY
1. Các chủng loại hợp đồng ký kết tại công ty
2. Ký kết hợp đồng nhập khẩu điện gia dụng tại công ty
2.1. Chủ thể hợp đồng
2.2. Hình thức của hợp đồng nhập khẩu thiết bị điện gia dụng
2.3. Đối tượng hợp đồng
2.4. Nội dung hợp đồng
3. Thực hiện hợp đồng nhập khẩu tại công ty
4. Giải quyết tranh chấp liên quan đến việc thực hiện hợp đồng nhập khẩu thiết bị điện gia dụng tại công ty
CHƯƠNG III. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KÝ KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG NHẬP KHẨU THIẾT BỊ ĐIỆN GIA DỤNG TẠI CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI AN QUÂN
I. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ KÝ KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG NHẬP KHẨU THIẾT BỊ ĐIỆN GIA DỤNG TẠI CÔNG TY
II. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP
1. Về phía Nhà nước
1.1. Tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho các đơn vị nhập khẩu
1.2. Hoàn thiện môi trường kinh doanh theo hướng hội nhập kinh tế quốc tế
1.3. Công bố danh bạ thương mại
2. Về phía Công ty TNHH Thương mại An Quân
2.1. Xây dựng chiến lược kinh doanh hợp lý
2.2. Đẩy mạnh hoạt động marketting của công ty nhằm tìm kiếm và mở rộng thị trường
2.3. Tăng cường công tác quản lý, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trong công ty
2.4. Kiến nghị về quá trình đàm phán
KẾT LUẬN
Về phía nhà nước
Về phía công ty
TÀI LIỆU THAM KHẢO
LỜI NÓI ĐẦU
Từ Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986, nước ta đã thực hiện chính sách đổi mới nền kinh tế, xoá bỏ cơ chế quản lý tập trung, quan liêu bao cấp, chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Gần hai mươi năm thực hiện đổi mới nền kinh tế, với chính sách khuyến khích đầu tư trong và ngoài nước, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển kinh tế – xã hội. Các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu có những bước phát triển ngày một lớn mạnh trong những năm gần đây.
Bên cạnh những kết quả tích cực, sự biến động phức tạp của môi trường kinh tế cũng như tính chất cạnh tranh ngày càng quyết liệt trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam đang đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp đang phải đương đầu với rất nhiều khó khăn, thách thức về năng lực quản lý, công nghệ, nguồn lực, chất lượng sản phẩm và thông tin cập nhật về thị trường, áp dụng các tập quán thương mại quốc tế
Đứng trước thực tiễn đó, qua thời gian thực tập tại Công ty TNHH Thương mại An Quân, với sự giúp đỡ nhiệt tình của giảng viên Bộ môn Luật Kinh tế, cùng với sự giúp đỡ của các cô, chú trong công ty, tác giả quyết định lựa chọn đề tài “Thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng nhập khẩu thiết bị điện gia dụng tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại An Quân” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm ba chương:
Chương 1: Những nội dung pháp lý cơ bản về hợp đồng xuất nhập khẩu.
Chương 2: Thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng nhập khẩu thiết bị điện gia dụng tại Công ty TNHH Thương mại An Quân.
Chương 3: Một số kiến nghị và giải pháp để nâng cao hiệu quả trong việc ký kết và thực hiện hợp đồng nhập khẩu thiết bị điện gia dụng tại Công ty.
Với lòng biết ơn sâu sắc, tác giả xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn và giúp đỡ tận tình của Thầy giáo hướng dẫn và các cô, chú trong Công ty TNHH Thương mại An Quân đã tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn tốt nghiệp này.
CHƯƠNG I. NHỮNG NỘI DUNG PHÁP LÝ CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG XUẤT NHẬP KHẨU
I. VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ
Nền kinh tế càng phát triển thì đòi hỏi sự chuyên môn hóa và phân công lao động càng cao. Song quá trình đó không chỉ diễn ra tại một quốc gia, mà nó được tiến hành trên bình diện quốc tế. Mỗi quốc gia phát huy lợi thế của mình trong một số lĩnh vực nhất định mà họ có thể tận dụng hết tiềm năng, trí sáng tạo và kinh nghiệm, sự ưu đãi của thiên nhiên để tạo ra hiệu quả to lớn cho xã hội. Nhưng tài nguyên lại phân bố không đều, hạn chế nên một quốc gia không thể tự sản xuất để đáp ứng được mọi nhu cầu của mình. Vì thế quốc gia đó sẽ phải mua về những thứ không tự sản xuất được từ nước khác, đồng thời bán những sản phẩm tự sản xuất được cho những nước có nhu cầu. Hoạt động này được gọi là ngoại thương.
Nhu cầu hoạt động ngoại thương thực chất là hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ giữa các quốc gia trên thế giới. Nếu ta xem ngoại thương là một tổng thể thì xuất nhập khẩu là nhân tố cốt lõi của tổng thể đó. Vì vậy hoạt động ngoại thương ra đời và phát triển cùng với sự phát triển về nhu cầu trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia.
(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX – NXB Chính trị Quốc gia, tr199, Hà Nội, 2001
Báo cáo chính trị của Ban chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) đã chỉ rõ “Trong toàn bộ công tác kinh tế đối ngoại, khâu quan trọng nhất là đẩy mạnh xuất khẩu để đáp ứng nhu cầu nhập khẩu”; đến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2000) Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Nhà nước có chính sách khuyến khích mạnh mẽ mọi thành phần kinh tế tham gia sản xuất, kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ Tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu, tiến tới cân bằng xuất nhập khẩu”(1). Xuất nhập khẩu có vai trò cần thiết và quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, đặc biệt là nhập khẩu có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
1. Vai trò của hoạt động xuất khẩu:
Hoạt động xuất khẩu tạo ra lượng ngoại tệ đáng kể để nhập khẩu các mặt hàng cần thiết phục vụ công cuộc CNH-HĐH đất nước. Hoạt động xuất khẩu tạo ra cơ hội cho hàng hoá trong nước được tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới, từ đó tác động vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển. Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi các doanh nghiệp phải có cơ cấu tổ chức sản xuất và kinh doanh sao cho luôn thích nghi được với thị trường. Ngoài ra nó còn có vai trò tích cực trong vấn đề giải quyết việc làm và cải thiện đời sống nhân dân. Sản xuất hàng xuất khẩu thu hút lực lượng lao động rất lớn, giảm bớt tình trạng thất nghiệp, góp phần ổn định tình hình kinh tế, chính trị và xã hội. Đồng thời xuất khẩu còn là cơ sở, tiền đề để mở rộng, thúc đẩy các quan hệ kinh tế của một quốc gia (như quan hệ tín dụng, đầu tư, bảo hiểm quốc tế .v.v ) .
2. Vai trò của hoạt động nhập khẩu :
Nhập khẩu là việc mua hàng hóa, dịch vụ của nước ngoài đem bán ở thị trường trong nước nhằm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng và tăng lợi nhuận của doanh nghiệp.
Nhập khẩu để bổ sung các hàng hoá mà trong nước không sản xuất được, hoặc sản xuất không đáp ứng nhu cầu. Nhập khẩu còn để thay thế, nghĩa là nhập khẩu về những hàng hoá mà sản xuất trong nước sẽ không có lợi bằng nhập khẩu. Hai mặt nhập khẩu bổ sung và nhập khẩu thay thế nếu được thực hiện tốt sẽ tác động tích cực đến sự phát triển cân đối nền kinh tế quốc dân, trong đó, cân đối trực tiếp ba yếu tố của sản xuất : công cụ lao động, đối tượng lao động và lao động.
Nhập khẩu đem lại cho nền kinh tế những máy móc thiết bị hiện đại, công nghệ sản xuất tiên tiến, tăng cường chuyển giao công nghệ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá đất nước.
Hàng hoá nhập khẩu thường là các hàng hoá có chất lượng cao, do đó để có thể cạnh tranh được với các hàng hoá nhập khẩu thì các doanh nghiệp sản xuất trong nước buộc phải đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm.
Hàng hoá nhập khẩu góp phần thỏa mãn các nhu cầu của người tiêu dùng, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo các yếu tố đầu vào sản xuất cho doanh nghiệp mà các yếu tố đầu vào đó trong nước không thể đáp ứng nổi, tạo việc làm ổn định cho người lao động.
Những ngành nghề, lĩnh vực mà sản xuất trong nước có lợi thế so sánh cao hơn sẽ ngày càng được chú trọng và những hàng hoá mà sản xuất trong nước có lợi thế kém hơn sẽ được nhập khẩu. Điều này sẽ làm tăng hiệu quả kinh tế xã hội, phát huy tối đa những nguồn lợi, lợi thế trong nước. Bên cạnh đó, những hàng hoá được sản xuất từ công nghệ hiện đại sẽ có đủ sức cạnh tranh với hàng hoá nhập khẩu và vươn ra thị trường nước ngoài. Đây cũng chính là một hình thức cạnh tranh lành mạnh để tất yếu phải đầu tư phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu của các doanh nghiệp trong nước nếu họ không muốn bị loại bỏ.
Nhập khẩu hợp lý có ý nghĩa to lớn trong việc góp phần tăng nhanh tốc độ phát triển kinh tế quốc dân, tăng thu nhập của dân cư và giải quyết tốt chính sách lao động xã hội, sử dụng có hiệu quả khả năng tiềm tàng của sản xuất trong nước, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế.
Tóm lại, trong một nền kinh tế thị trường, thương mại quốc tế là hoạt động kinh doanh buôn bán dịch vụ ở phạm vi quốc tế. Đây không phải là những hành vi mua bán riêng lẻ, mà là một hệ thống các hành vi mua bán có tổ chức nhằm đẩy mạnh sản xuất hàng hoá phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế ổn định và nâng cao đời sống nhân dân. Nhờ đó mà nền kinh tế có thể đạt được những bước tăng trưởng đột biến nhanh chóng nhưng đồng thời cũng có thể gặp phải những thất bại do đương đầu với các nền kinh tế khác.
Trao đổi mua bán quốc tế là một tất yếu, là một cách thức để phát triển nền kinh tế quốc dân. Có thương mại quốc tế là có xuất nhập khẩu và kinh doanh hàng hoá xuất nhập khẩu. Xuất nhập khẩu và kinh doanh hàng hóa xuất nhập khẩu là hai công việc khác nhau, nhưng đứng trên giác độ nền kinh tế quốc dân và các doanh nghiệp xuất nhập khẩu thì hai khâu này lại nằm trong chỉnh thể của quá trình kinh doanh.
II. HỢP ĐỒNG XUẤT NHẬP KHẨU
1. Khái niệm:
Cho đến nay, ở Việt Nam chúng ta chưa có một văn bản quy phạm pháp luật chính thức nào quy định cụ thể, chi tiết riêng cho hợp đồng xuất nhập khẩu. Trước đây, trong quy chế tạm thời số 4794/TN-XNK ngày 31/7/1991 của Bộ Thương nghiệp (nay là Bộ Thương mại) có nêu khái niệm về hợp đồng xuất nhập khẩu, trong đó đưa ra ba tiêu chuẩn để hợp đồng mua bán được thừa nhận là hợp đồng xuất nhập khẩu. Ba tiêu chuẩn đó là :
Thứ nhất, chủ thể của hợp đồng xuất nhập khẩu là các bên có quốc tịch khác nhau (i).
Thứ hai, hàng hoá là đối tượng của hợp đồng thường được di chuyển từ nước này sang nước khác (ii).
Thứ ba, đồng tiền thanh toán trong hợp đồng xuất nhập khẩu là ngoại tệ đối với một hoặc hai bên ký kết hợp đồng (iii).
Khái niệm và cách hiểu này đã được thừa nhận trong thực tiễn hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam trong nhiều năm qua. Và ở một chừng mực nhất định, quan điểm này không sai. Nhưng cùng với việc hình thành các khu chế xuất ở Việt Nam và những quy chế đặc biệt về khu chế xuất, tiêu chuẩn (ii) quy định rằng đối tượng của hợp đồng xuất nhập khẩu phải được chuyển qua biên giới không còn phù hợp nữa.
Theo Điều 80 của Luật Thương mại hiện hành (10/5/1997): “ Hợp đồng mua bán hàng hoá với thương nhân nước ngoài là hợp đồng mua bán hàng hoá được ký kết giữa một bên là thương nhân Việt Nam với một bên là thương nhân nước ngoài”. Như vậy có thể hiểu hợp đồng xuất nhập khẩu là tất cả các hợp đồng mua bán được ký kết giữa các chủ thể Việt Nam với các thể nhân, pháp nhân nước ngoài, hay nói cách khác là những hợp đồng mua bán có yếu tố nước ngoài.
Cùng với việc chuyển sang cơ chế thị trường, và việc tham gia sâu rộng vào sự phân công lao động quốc tế, Việt Nam đang từng bước hoà nhập, thay đổi và đi đúng quỹ đạo của sự phát triển kinh tế quốc tế. Chính phủ Việt Nam cũng đang nghiên cứu để tiến tới gia nhập hoặc thừa nhận các điều ước quốc tế đa phương, trong đó có các điều ước quốc tế về mua bán hàng hoá quốc tế như Công ước Viên 1980. Công ước Viên 1980 là Công ước của Liên Hiệp Quốc về mua bán hàng hoá quốc tế được ký kết ở Viên (Áo) ngày 11/04/1980. Công ước Viên 1980 có quy định: “ Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là hợp đồng mua bán hàng hoá, trong đó các bên ký kết có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau. Hàng hoá được chuyển từ nước này sang nước khác hoặc trao đổi ý chí khi ký kết hợp đồng giữa các bên ký kết được thiết lập ở các nước khác nhau” (Điều 1).
Vậy, để hiểu rõ và nhận biết hợp đồng xuất nhập khẩu với hợp đồng mua bán hàng hoá trong nước thì chúng ta cần nắm rõ điều kiện trước tiên của các chủ thể ký kết là có quốc tịch khác nhau.
2. Đặc điểm:
Bản chất của hợp đồng xuất nhập khẩu (HĐ XNK) là sự thoả thuận của các bên ký kết (các đương sự ), và có những đặc điểm sau:
+ Hợp đồng xuất nhập khẩu mang tính thương mại, thông qua nó là sự trao đổi, mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ thương mại của các thương nhân, nhằm mục đích thu lợi nhuận.
Thương nhân, theo Luật Thương mại quốc tế, là các bên tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế để hưởng các quyền và thực hiện những nghĩa vụ nhất định.
+ Đồng thời, hợp đồng xuất nhập khẩu mang tính quốc tế, thể hiện:
- Hàng hoá - đối tượng của hợp đồng - được di chuyển ra khỏi biên giới quốc gia. Thực tế thì điều kiện này cũng chưa cho thấy sự khác biệt giữa hợp đồng xuất nhập khẩu với một hợp đồng kinh tế nói chung, ví dụ như hợp đồng mua bán ký kết giữa một xí nghiệp trong khu chế xuất với một xí nghiệp ngoài khu chế xuất được luật pháp coi là hợp đồng xuất nhập khẩu, nhưng hàng hoá thuộc hợp đồng đó không di chuyển ra khỏi biên giới quốc gia.
- Đồng tiền thanh toán phải là ngoại tệ đối với ít nhất một bên.
- Các bên ký kết có trụ sở kinh doanh hoặc quốc tịch ở các nước khác nhau.
- Luật điều chỉnh hợp đồng ( Luật áp dụng cho hợp đồng) mang tính chất phức tạp và đa dạng; nếu là hợp đồng trong nước thì chỉ chịu sự điều chỉnh của luật pháp nước đó. Nhưng xuất phát từ đặc điểm các bên ký kết là những thương nhân có quốc tịch khác nhau, HĐ XNK có thể sẽ áp dụng luật nước ngoài mà các bên thỏa thuận lựa chọn, tập quán thương mại quốc tế hoặc điều ước quốc tế thậm chí cả án lệ (tiền lệ pháp). Để tránh hiện tượng “xung đột pháp luật”- là hiện tượng có nhiều hệ thống pháp luật khác nhau có thể cùng tham gia điều chỉnh một quan hệ pháp luật – thì các bên phải thống nhất dẫn chiếu một nguồn luật điều chỉnh cụ thể trong quá trình thực hiện hợp đồng.
3. Nguồn luật điều chỉnh
Trước khi giao kết một HĐ XNK các chủ thể luôn phải tìm hiểu trong hoàn cảnh đó hợp đồng quy định họ có những quyền và nghĩa vụ gì. Nếu một HĐ XNK không chặt chẽ thì khả năng xảy ra tranh chấp là rất lớn, các bên rất dễ vi phạm hợp đồng. Trên thực tế, một HĐ XNK dù được soạn thảo hoàn chỉnh, chi tiết đến đâu cũng không thể tiền liệu trước được mọi tình huống có thể phát sinh trong quá trình thực hiện. Khi đó, những vấn đề phát sinh sẽ dựa vào cơ sở nào để giải quyết nếu như trong hợp đồng không quy định hoặc quy định không đầy đủ. Nếu là hợp đồng mua bán hàng hoá trong nước thông thường thì luật quốc gia đó là cơ sở, nhưng đối với một HĐ XNK thì vấn đề hoàn toàn không đơn giản – bởi luật quốc gia của các bên liên quan đều có khả năng áp dụng. Để giải quyết vấn đề này, thì theo sự thoả thuận của các bên trong quá trình giao kết HĐ nguồn luật điều chỉnh có thể là luật quốc gia, luật quốc tế, tập quán TMQT hay tiền lệ pháp (án lệ) về thương mại.
Powered by vBulletin® Version 4.1.10 Copyright © 2012 vBulletin Solutions, Inc. All rights reserved.