PDA

Xem tài liệu đầy đủ : Luận Văn NH318 - Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Đông Hà Nội



Ghost
01-11-2010, 23:01
LỜI MỞ ĐẦU

Doanh nghiệp vừa và nhỏ là một loại hình Doanh nghiệp không những thích hợp đối với nền kinh tế của những nước công nghiệp phát triển mà nó còn đặc biệt thích hợp với nền kinh tế của những nước đang phát triển. ở nước ta trước đây, việc phát triển các DNVVN cũng đã được quan tâm, song chỉ từ khi có đường lối đổi mới kinh tế do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng thì các Doanh nghiệp này mới thực sự phát triển nhanh về cả số và chất lượng.
Trong điều kiện của những bước đi ban đầu thực hiện công nghiệp hóa và hiện đại hoá đất nước, có thể khẳng định việc đẩy mạnh phát triển DNVVN là bước đi hợp quy luật đối với ta. DNVVN là công cụ góp phần khai thác toàn diện mọi nguồn lực kinh tế đặc biệt là những nguồn lực tiềm tàng sẵn có ở mỗi người, mỗi miền của đất nước. Loại hình DN này phát triển chắc chắn sẽ có tác dụng to lớn trong việc giải quyết các mối quan hệ mà quốc gia nào cũng phải quan tâm chú ý đến : tăng trưởng kinh tế – giải quyết việc làm – kiềm chế lạm phát.
Song DNVVN cũng gặp không ít khó khăn trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình, đặc biệt là thiếu vốn để mở rộng đầu tư chiều sâu. Xuất phát từ đường lối chủ trương đa dạng hoá các thành phần kinh tế, nhu cầu vốn cấp bách của các Doanh nghiệp, cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường và thị phần Chi nhánh NHNNo & PTNT Đông Hà Nội đã tập trung ưu tiên cấp tín dụng cho khách hàng vừa và nhỏ. Nhưng với một Chi nhánh mới thành lập từ 7/2003, hoạt động tín dụng của Chi nhánh nói chung và hoạt động tín dụng đối với DNVVN nói riêng cũng còn nhiều mặt hạn chế. Như chưa đáp ứng đủ nhu cầu vốn vay, mới giải quyết được nhu cầu vốn trong ngắn hạn là chủ yếu, hình thức tín dụng nghèo nàn.
Vì vậy, trong quá trình thực tập tại Chi nhánh em đã chọn đề tài “Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Đông Hà Nội” để làm luận văn. Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Chất lượng tín dụng đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng Thương Mại.
Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi nhánh NHNNo & PTNT Đông Hà Nội.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi nhánh NHNNo & PTNT Đông Hà Nội.
Do kiến thức còn hạn chế, trình độ hiểu biết chưa rộng, thời gian nghiên cứu còn hạn hẹp nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong thầy cô và bạn đọc thông cảm.

Ghost
01-11-2010, 23:01
MỤC LỤC TÀI LIỆU

Lời mở đầu
Chương 1: Chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng Thương mại
1.1. Tín dụng Ngân hàng đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.1.1. Vai trò của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với sự phát triển của nền kinh tế
1.1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của Doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.1.1.2. Vai trò của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.1.2. Một số vấn đề cơ bản về tín dụng Ngân hàng
1.1.2.1. Khái niệm về tín dụng Ngân hàng
1.1.2.2. Phân loại tín dụng Ngân hàng
1.1.3. Tầm quan trọng của tín dụng tới Doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.2. Chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương mại đối với các Doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.2.1 Quan niệm về chất lượng tín dụng
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng đối với các Doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng đối với các DNVVN
1.2.3.1. Nhân tố từ phía Ngân hàng
1.2.3.2. Nhân tố từ phía khách hàng
1.2.3.3. Nhân tố từ phía nền kinh tế xã hội

Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ ở chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Đông Hà Nội
2.1. Giới thiệu chung về Chi nhánh NHNNo & PTNT Đông Hà Nội
2.1.1. Chức năng và nhiệm vụ của Chi nhánh
2.1.2. Bộ máy tổ chức điều hành tại Đông Hà Nội
2.1.3. Tình hình hoạt động kinh doanh tại Chi nhánh Đông Hà Nội
2.2. Thực trạng chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi nhánh Đông Hà Nội
2.2.1. Những quy định chung về tín dụng đối với DNVVN ở Chi nhánh
2.2.2. Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DNVVN tại Chi nhánh Đông Hà Nội những năm gần đây
2.3. Đánh giá thực trạng chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Chi nhánh
2.3.1. Những kết quả đạt được
2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân
2.3.2.1. Một số mặt hạn chế trong tín dụng đối với DNVVN tại Chi nhánh
2.3.2.2. Nguyên nhân chủ yếu làm ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng đối với DNVVN

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với các Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Đông Hà Nội
3.1. Định hướng hoạt động tín dụng đối với các DNVVN tại Chi nhánh Đông Hà Nội
3.2. Một số giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi nhánh
3.2.1. Tăng cường khai thác những nguồn vốn có chi phí thấp
3.2.2. Nâng cao chất lượng công tác thẩm định
3.2.3. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát tiền vay
3.2.4. Xử lý kịp thời nợ quá hạn
3.2.5. Trích lập quỹ bù đắp rủi ro
3.2.6. Nâng cao chất lượng nhân sự
3.2.7. Đa dạng hoá các hình thức tín dụng
3.2.8. Tăng cường công tác tư vấn cho Doanh nghiệp vay vốn
3.2.9. Mở rộng Marketing Ngân hàng để thu hút thêm nhiều khách hàng
3.3. Một số kiến nghị đối với cơ quan Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước và NHNNo & PTNT Việt Nam
3.3.1. Kiến nghị đối với cơ quan Nhà nước
3.3.2. Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước
3.3.3. Kiến nghị đối với NHNNo & PTNT Việt Nam
Kết luận
Tài liệu tham khảo
(84 TRANG)

Ghost
01-11-2010, 23:02
Chương 1

Chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân Hàng Thương Mại

1.1 Tín dụng ngân hàng đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.1.1 Vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với sự phát triển của nền kinh tế
1.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp được hiểu là một tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân được tổ chức ra để hoạt động kinh doanh trong một lĩnh vực nhất định với mục đích công ích hoặc thu lợi nhuận. Thông thường cần có 3 điều kiện sau để được công nhận là một Doanh nghiệp :
- Có tư cách pháp nhân đầy đủ ( doanh nghiệp được Nhà nước thành lập, công nhận hay cho phép hoạt động ) .
- Có vốn pháp định để kinh doanh.
- Có tên gọi và hoạt động với danh nghĩa riêng, chịu trách nhiệm độc lập về mọi hoạt động kinh doanh của mình.
Các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường rất đa dạng và phong phú, có thể phân loại các doanh nghiệp theo các tiêu chí sau :
Thứ nhất: dựa vào quan hệ sở hữa về vốn và tài sản, các doanh nghiệp được chia thành Doanh nghiệp Nhà nước, Doanh nghiệp tư nhân, Doanh nghiệp sở hữu hỗn hợp.
- Doanh nghiệp Nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước thành lập, đầu tư vốn và quản lý nó với tư cách là chủ sở hữu.
- Doanh nghiệp tư nhân là những doanh nghiệp do cá nhân đầu tư vốn và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.
- Doanh nghiệp sở hữu hỗn hợp là các doanh nghiệp có sự đan xen của các hình thức sở hữu khác nhau trong cùng một doanh nghiệp.
Cách phân loại này chỉ rõ quan hệ sở hữu về vốn và tài sản trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Đồng thời là một trong các căn cứ để Nhà nước có chính sách kinh tế và định hướng phát triển phù hợp đối với từng loại doanh nghiệp.
Thứ hai: dựa vào mục đích kinh doanh người ta chia doanh nghiệp thành doanh nghiệp hoạt động kinh doanh và doanh nghiệp hoạt động công ích.
- Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh là tổ chức kinh tế do Nhà nước thành lập hoặc thừa nhận, hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường. Mục tiêu số một là thu lợi nhuận tối đa.
- Doanh nghiệp hoạt động công ích ( thường là doanh nghiệp Nhà nước ) là tổ chức kinh tế thực hiện các hoạt động về sản xuất, lưu thông hay cung cấp các dịch vụ công cộng, trực tiếp thực hiện các chính sách xã hội của Nhà nước hoặc thực hiện nhiệm vụ an ninh quốc phòng. Mục tiêu chính của các doanh nghiệp này là hiệu quả kinh tế và xã hội.
Phân loại theo hình thức này là cơ sở để chọn tiêu thức đánh giá lợi ích xã hội của doanh nghiệp cho hợp lý và là một trong những căn cứ quan trọng để xác định chính sách tài trợ của Nhà nước.
Thứ ba: dựa vào lĩnh vực kinh doanh, các doanh nghiệp có thể chia làm hai loại là doanh nghiệp tài chính và doanh nghiệp phi tài chính.
- Doanh nghiệp tài chính là các tổ chức tài chính trung gian như các ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty bảo hiểm .Những doanh nghiệp này có khả năng cung ứng cho nền kinh tế các loại dịch vụ về tài chính, tiền tệ, tín dụng, bảo hiểm .
- Doanh nghiệp phi tài chính là các doanh nghiệp lấy sản xuất kinh doanh sản phẩm làm hoạt động chính.
Phân loại theo tiêu thức này chỉ ra chức năng của từng loại doanh nghiệp. Chức năng chủ yếu của các doanh nghiệp tài chính là làm môi giới thu hút và chuyển giao vốn từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu để đầu tư phát triển kinh tế. Đối với các doanh nghiệp phi tài chính, chức năng chủ yếu là cung cấp các sản phẩm, hàng hoá hay dịch vụ phi tài chính đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nền kinh tế. Qua tiêu thức phân loại này Nhà nước có thêm căn cứ để hoạch định các chính sách quản lý phù hợp với mỗi loại hình doanh nghiệp trong từng ngành nghề.
Thứ tư: dựa vào quy mô kinh doanh người ta chia doanh nghiệp thành các loại doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp nhỏ.
Việc quy định thế nào là doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ là tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội cụ thể của từng nước và nó cũng thay đổi theo từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển kinh tế. Tại nước ta, tiêu chí phân loại DNVVN đã được quy định tạm thời tại công văn số 681/CP – KTN ngày 20/6/1998 của Thủ tướng Chính phủ. Theo quy định tại công văn này, tiêu chí xác định DNVVN là vốn và số lao động. Cụ thể là DNVVN là doanh nghiệp có vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng và số lao động trung bình hàng năm dưới 200 người.
Để khuyến khích và tạo thuận lợi cho việc phát triển các DNVVN, ngày 23/11/2001 Chính phủ đã ra nghị định 90/2001/NĐ - CP. Trong đó quy định DNVVN là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người. Căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội cụ thể của ngành, địa phương trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể áp dụng linh hoạt đồng thời cả hai chỉ tiêu vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu trên.