PDA

Xem tài liệu đầy đủ : Báo Cáo NH332 - Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án tại Sở giao dịch I, Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam



Ghost
01-11-2010, 13:48
LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, với mục đích hàng đầu là phát triển và rút ngắn khoảng cách với các quốc gia phát triển trong khu vực và trên thế giới, có thể nói, chưa bao giờ nhu cầu đầu tư lại to lớn và khẩn trương như hiện nay, bởi thông tin là động lực của sự phát triển nói chung và sự phát triển kinh tế nói riêng đối với mọi quốc gia trên thế giới. Như chúng ta đã biết, bản thân vốn đầu tư luôn là một nguồn lực có hạn. Vấn đề này đòi hỏi chúng ta phải lựa chọn được những phương án đầu tư mang lại hiệu quả thực sự, có thể thoả mãn tốt nhất các yêu cầu của chủ đầu tư cũng như của nền kinh tế quốc dân trong giới hạn nguồn lực nhất định.
Để có thể hoạt động hiệu quả, các ngân hàng thương mại không những cần phải làm tốt công tác "đi vay" mà còn phải làm tốt cả công tác "cho vay" của mình. Trên thực tế, quá trình cho vay theo cách hiểu chung nhất thì cũng chính là quá trình mà bản thân các ngân hàng thương mại tham gia vào hoạt động đầu tư của nó. Nhưng câu hỏi đặt ra là làm thế nào để có thể làm tốt công tác cho vay ?
Bên cạnh nhiều nghiệp vụ đòi hỏi chuyên môn khác, nghiệp vụ thẩm định dự án đầu tư nổi lên với nhiều đóng góp quan trọng trong hoạt động kinh doanh cũng như sự an toàn của các ngân hàng thương mại. Bởi lẽ, việc các ngân hàng thương mại làm tốt công tác thẩm định cũng chính là họ đã góp phần làm tăng hiệu quả sử dụng vốn vay, giảm rủi ro trong hoạt động của ngân hàng, từ đó góp phần thúc đẩy sự phát triển của các ngân hàng nói riêng và đất nước nói chung.
Trong những năm qua, hiệu quả cho vay theo dự án của các ngân hàng thương mại chưa cao, nơi cần vốn đầu tư thì chưa được đáp ứng, trong khi ở nơi khác lại xảy ra tình trạng lãng phí vốn. Một trong những nguyên nhân là công tác thẩm định chưa tốt, do chất lượng thẩm định về mặt tài chính của dự án chưa cao. Nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư đang là đòi hỏi cấp thiết nhầm mang lại hiệu quả sử dụng vốn tốt nhất cho các NHTM.
Xuất phát từ thực tế, em đã chọn đề tài: Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án tại Sở giao dịch I, Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam. Qua hoạt động thực tiễn áp dụng quy trình thẩm định tài chính dự án tại Sở và trên cơ sở những kiến thức đã tích luỹ được để tìm hiểu thực tế, đóng góp một số giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng Ngân hàng.
Kết cấu của bài gồm ba chương
Chương I: Lý luận chung về thẩm định tài chính dự án tại Ngân hàng Thương mại.
Chương II: Thực trạng thẩm định tài chính dự án tại Sở giao dịch I, Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam.
Chương III: Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án tại Sở giao dịch I.

Ghost
01-11-2010, 13:49
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1- Cho vay theo dự án của khách hàng tại NHTM
1.1.1 - Khái niệm NHTM:
NHTM là một tổ chức tín dụng kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, với hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi với trách nhiệm hoàn trả, sử dụng số tiền này để cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán.
Mục tiêu cơ bản, xuyên suốt quá trình hoạt động của các NHTM là hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ để tìm kiếm và tối đa hoá lợi nhuận trong phạm vi khuôn khổ của pháp luật.
1.1.2 . Các hoạt động cơ bản của NHTM
Ngân hàng là một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tài chính trên thị trường với mục đích kiếm lợi nhuận. Ba hoạt động chính của ngân hàng:
¯ Nhận gửi
Trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình, các Ngân hàng luôn luôn quan tâm tới công tác huy động vốn, coi nó là nhiệm vụ của tất cả các khối, ban trong ngân hàng chứ không chỉ của riêng một phòng nguồn vốn. Vì cho vay luôn đ ợc coi là hoạt động sinh lời cao, do đó các Ngân hàng đã tìm mọi cách để huy động các nguồn vốn trong nền kinh tế quốc dân: bao gồm các khoản tiền gửi tiết kiệm của dân chúng. Bên cạnh đó, khi cần vốn cho nhu cầu thanh khoản hay đầu tư cho vay, các Ngân hàng th ơng mại có thể đi vay từ các tổ chức tín dụng khác, từ các công ty khác, các tổ chức tài chính trên thị tr ường tài chính.
Nguồn vốn tự có của Ngân hàng có thể có đư ợc bằng cách phát hành các kỳ phiếu, hoặc đư ợc Ngân sách Nhà nư ớc cấp hoặc từ các quỹ trong quá trình hoạt động của Ngân hàng và các khoản lợi không chi trong quá trình phân phối thu nhập của Ngân hàng.
Trong quá trình thu hút nguồn vốn Ngân hàng phải bỏ ra những chi phí giao dịch, chi phí trả lãi tiền gửi, trả lãi Ngân hàng vay và các khoản chi phí khác có liên quan. Những chi này đòi hỏi Ngân hàng phải sử dụng những đồng vốn huy động được có hiệu quả để có thể bù đắp các khoản chi phí và đem lại lợi nhuận cho Ngân hàng.
Y Cho vay:
Đối với hoạt động của một Ngân hàng thư ơng mại, cho vay luôn đư ợc phân theo nhiều hình thức khác nhau cho phù hợp với nhiều đối tư ợng khách hàng, giúp cho Ngân hàng có thể đáp ứng, từ đó thu hút đ ược một lư ợng khách hàng đa dạng, phong phú nhằm san sẻ rủi ro trong nghiệp vụ cho vay của mình. Nhìn chung, cho vay có thể đư ợc phân thành các loại như sau:
+ Cho vay thư ơng mại:
Tiền đề của cho vay th ương mại đã xuất hiện ngay từ những ngày đầu tiên trong lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng thư­ơng mại, khi các ngân hàng chiết khấu thư ơng phiếu mà thực tế chính là cho vay đối với những ng ười bán, hay nói cách khác ng ười bán đã chuyển các khoản phải thu trong tương lai cho ngân hàng để lấy một khoản tiền ứng tr ước nhỏ hơn. Sau đó là bước chuyển tiếp từ chiết khấu th ương phiếu sang cho vay trực tiếp đối với các khách hàng nhằm giúp họ có vốn để mua hàng dự trữ nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh.
+ Cho vay tiêu dùng
Tr ước đây hình thức cho vay tiêu dùng ( hay chính là cho vay đối với cá nhân và các hộ gia đình) ch ưa đư ợc các Ngân hàng chú trọng đến bởi vì họ tin rằng các khoản cho vay tiêu dùng có rủi ro tín dụng cao. Như ng dần dần, sự gia tăng thu nhập của ngư ời tiêu dùng và sự cạnh tranh trong cho vay đã buộc các ngân hàng phải h ướng tới ng ời tiêu dùng nh ư là một khách hàng tiềm năng. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, tín dụng tiêu dùng đã trở thành một trong những loại hình tín dụng có tốc độ tăng tr ởng nhanh nhất ở các nư ớc có nền kinh tế phát triển.
+ Tài trợ cho dự án
Cùng với sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ của nền kinh tế thị tr ường, các ngân hàng ngày càng trở nên năng động, linh hoạt hơn trong việc cấp tín dụng trung dài hạn, cụ thể là thông qua tài trợ cho các dự án đầu t ư phát triển, đó có thể là các dự án xây dựng nhà máy mới hay các dự án đầu tư trong lĩnh vực công nghệ cao. Mặc dù thời hạn tín dụng càng dài thì rủi ro tín dụng càng lớn, như­ng lãi suất thu đư ợc từ nghiệp vụ này lại th ờng cao, nên các Ngân hàng tập trung vào loại hình cho vay này, một số ngân hàng thậm chí còn cho vay để đầu tư vào đất.
YCác dịch vụ khác: Ngoài hai nghiệp vụ cơ bản là nhận gửi và cho vay, các NHTM còn thực hiện nhiều nghiệp vụ khác như cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán, bảo lãnh, bảo quản vật có giá, cung cấp các dịch vụ uỷ thác và tư vấn, cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán, các dịch vụ bảo hiẻm, dịch vụ đại lý Việc đa dạng hoá các dịch vụ của Ngân hàng nâng cao khả năng cạnh tranh của Ngân hàng trong việc đáp ứng được nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng trong nền kinh tế thị trường.
1.1.2. Cho vay theo dự án của khách hàng tại NHTM
1.1.2.1 Dự án vay của khách hàng
Nền kinh tế -xã hội của một quốc gia, một khu vực có rất nhiều vấn đề cần được xem xét, nghiên cứu trên nhiều góc độ khác nhau. Có những vấn đề đặt ra và được giải quyết trong khuôn khổ của một chương trình nào đó, nhưng cũng có những vấn đềphải giải quyết trong khoảng thời gian rất dài với sự tham gia của rất nhiều bên liên quan.
Bản thân các doanh nghiệp cũng như Nhà nước luôn cần phải tìm kiếm các giải pháp cần thiết để giải quyết các vấn đề theo thứ tự ưu tiên nhất định. Một chủ doanh nghiệp hay một nông dân cũng đều có điểm chung là họ đều phải xác định cho mình các vấn đề cần được ưu tiên giải quyết trong những khoảng thời gian nhất định. Nhưng một ý đồ vè một phương án sản xuất mới, một sản phẩm mới không phải nhanh chóng được hình thành mà nó phải trải qua một quá trình nghiên cứu, cân nhắc phức tạp trong suy nghĩ của nhà sáng kiến. Đây chính là giai đoạn hình thành một ý tưởng về một vấn đề nào đó cần nghiên cứu sâu hơn, điều này cũng hàm chứa cả mục tiêu cần phải giải quyết.
Mục tiêu của dự án khá cụ thể và có thể đo được nội dung của nó. Song nếu xét đầy đủ các yếu tố để tạo ra và tiêu thụ được nó trên thị trường thì mục tiêu này còn rất mơ hồ và ẩn chứa nhiều rủi ro bên trong đòi hỏi các nhà sáng kiến phải trả lời trước khi triển khai thực hiện. Bản thân người có ý tưởng dự áncũng phải xem xét nhiều khía cạnh khác nhau có liên quan đến dự án để từ đó có thể xác định những nguồn lực cần thiết để thực hiện ý tưởng đó, cũng chính nhà sáng kiến đó sẽ thấy được phần nào khó khăn trở ngại cho việc thực hiện ý tưởng dự án. Tuy nhiên trong khuôn khổ sáng kiến dự án, người có sáng kiến chưa thể quyết định dứt điểm được các khó khăn đó, việc làm này đòi hỏi ở quá trình nghiên cứu của các nhà soạn thảo dự án sau nay.
Các cơ hội để hình thành sáng kiến dự án: Có thể nói, giai đoạn đầu tiên của việc hình thành các dự án có ý nghĩa rất quan trọng. Không phải tất cả mọi vấn đề xuất hiện trong tư tưởng đều có thể được chọn làm mục tiêu nghiên cứu của một dự án. Bản thân các vấn đề trước khi trở thành sáng kiến dự án cần phải được xem xét một cách khách quan, nó phải được đánh giá, trao đổi thảo luận với nhiều người khác nhau để làm rõ mục tiêu, giải pháp trong việc thực hiệnnó.
Trước khi một ý tưởng đầu tư được quyết định nghiên cứu như là một dự án đầu tư, các doanh nghiệp phải trả lời được các câu hỏi dưới đây:
- Liệu có cần một dự án như thế này không? Đã cần vào lúc này hay chưa?
-Dự án có cơ hội thực hiện không, mức độ chắc chắn của các cơ hội có được xác nhận không? Có nhận được sự ủng hộ của các đối tượng liên quan không?
-Nếu cơ hội được lựa chọn thì khi thực hiện có gặp phải những khó khăn lớn hay không? Các khó khăn đó có hướng nào giải quyết được không?
Lập dự án là việc xem xét, chuẩn bị trước khi quyết định đầu tư mà người lập dự án phải nghiên cứu và phân tích, tính toán toàn diện các khía cạnh kinh tế - kỹ thuật , điều kiện tự nhiên, môi trường xó hội, mụi trường pháp lý .cú liờn quan đến quá trỡnh thực hiện đầu tư, đến sự phát huy tác dụng và hiệu quả đạt được của công cuộc đầu tư, phải dự đoán các yếu tố bất định ( sẽ xảy ra trong suốt quá trỡnh kể từ khi thực hiện đầu tư cho đến khi các thành quả của hoạt động đầu tư kết thúc sự phát huy tác dụng theo dự kiến trong dự án) có ảnh hưởng đến sự thành bại của công cuộc đầu tư.