mahk
16-05-2011, 09:55
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã thúc đẩy các ngành công nghiệp phát triển, góp phần cải thiện nền kinh tế nước nhà. Quá trình đô thị hoá ở các khu vực ven đô cũng diễn ra nhanh và mạnh, đời sống của người dân dược nâng cao đồng thời cũng làm tăng đáng kể khối lượng nước thải đô thị. Trong thành phố hiện nay có một số lượng không nhỏ các nhà máy, xí nghiệp được xây dựng từ những năm 60 với công nghệ sản xuất lạc hậu, không có hệ thống xử lý nước thải đã gây ra sự ô nhiễm môi trường đặc biệt là môi trường nước. Nước thải đô thị qua hệ thống thoát nước của thành phố xả vào hệ thống sông trong và ven đô thị, phần lớn chúng được sử dụng để tưới ruộng và nuôi thuỷ sản, phần còn lại xả vào hệ thống ao, hồ và ngấm xuống đất. Nước thải đô thị chứa nhiều độc tố và kim loại nặng chảy vào hệ thống sông thoát nước của thành phố là nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước tưới. Đây chính là nguyên nhân ảnh hưởng đến môi trường của vùng ngoại thành Hà Nội, đặc biệt tại những vùng sử dụng nước thải để trồng rau cung cấp cho Thành phố Hà Nội.
ở nhiều nước trên thế giới và ở Việt Nam, nước thải đô thị đã và đang được sử dụng vào mục đích nông nghiệp. ở thành phố Uppsala (Thụy Điển), nước thải sau khi xử lý bằng hồ sinh học được tưới cho cây “Năng lượng-Energy”, còn ở Anh và CHLB Đức ngay từ đầu thế kỷ 19 đã xây dựng những cánh đồng chuyên tưới nước thải đã được xử lý cơ học. Sang đầu thế kỷ 20, chỉ tính riêng Châu Âu đã có 80.000 - 90.000 ha đất nông nghiệp được tưới bằng nước thải đô thị. ở Mỹ, hồ sinh học đang được sử dụng để xử lý nước thải công nghiệp thực phẩm, giấy, hóa chất, sản xuất dầu lửa. Một phần nước thải sau khi xử lý ở hồ sinh học được đổ vào sông hồ tự nhiên, một phần lớn còn lại được sử dụng vào mục đích tưới tiêu. ở úc, toàn bộ nước thải của thành phố Melbourne được xử lý bằng hồ sinh học, sau đó chúng được sử dụng để tưới cây tại các khu đô thị và trồng cây cảnh [27].
Thôn Bằng B, quận Hoàng Mai, Hà nội có thể được coi là một vùng sinh thái đặc trưng ven đô thị ở đồng bằng chịu ảnh hưởng của nước thải đô thị. Nước thải đô thị đã và đang được sử dụng để tưới cho lúa, rau màu và nuôi cá. Kết quả nghiên cứu của Trịnh Thị Thanh, Nguyễn Xuân Thành, hoặc của Vũ Quyết Thắng, hay của Viện Môi trường và phát triển bền vững đều cho thấy nước thải đô thị là nguồn nước chính cung cấp cho sản xuất nông nghiệp của nhiều xã dọc theo các con sông Tô Lịch, Kim Ngưu và ven hồ Yên Sở. Việc sử dụng nước thải trong nông nghiệp đã có những ảnh hưởng đến chất lượng rau, cá và sức khỏe cộng đồng.
Sử dụng nước thải để trồng rau là một trong những vấn đề thực tế đặt ra cần giải quyết nhằm bảo vệ môi trường và sức khoẻ con người. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy, tính chất nước thải đô thị đang diễn biến theo chiều hướng không còn phù hợp với các hoạt động sản xuất nông nghiệp nói chung và việc canh tác rau nói riêng. Bên cạnh những hậu quả độc hại do thực phẩm nhiễm độc gây ảnh hưởng cấp tính đến sức khoẻ con người còn có những ảnh hưởng mãn tính. Nhìn chung, những ảnh hưởng này rất nguy hiểm, do tính chất nguy hại mang tính tiềm ẩn và thường chỉ biểu hiện khi sức khoẻ con người suy yếu, khi hàm lượng chất độc tích đọng trong cơ thể tới mức độ nhất định nào đó.
Hiện nay, nhu cầu rau nói chung và nhu cầu về rau sạch nói riêng ngày càng tăng. ở Hà Nội bình quân mỗi ngày tiêu thụ khoảng 200 tấn rau quả các loại. Phần lớn rau được sản xuất ở những vùng lân cận và được tiêu thụ trong thành phố chưa qua giám định chất lượng. Cùng với những nhận thức đúng đắn về vai trò của vệ sinh an toàn thực phẩm, trong những năm gần đây, chất lượng của các loại thực phẩm trong đó có rau xanh ngày càng được xã hội đặc biệt quan tâm. Do vậy đề tài nghiên cứu ô nhiễm môi trường làng nghề trồng rau ngoại thành Hà Nội được đặt ra nhằm làm rõ những vấn đề nêu trên.
Địa bàn tiến hành nghiên cứu được lựa chọn: Thôn Bằng B, Phường Hoàng Liệt, Quận Hoàng Mai, Hà Nội. Địa bàn nghiên cứu đại diện cho vùng trồng rau sử dụng nước thải của thủ đô Hà Nội để tưới. Quận Hoàng Mai là vùng đất thấp nhất nằm ở phía nam của thành phố Hà Nội và là nơi tiếp nhận nước thải của 4 con sông chảy từ nội thị vào (sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu, sông Lừ, sông Sét).
Thôn Bằng B thuộc phường Hoàng Liệt có khoảng 7,1 ha đất trồng rau nước (rau rút, rau muống, rau cần, rau cải xoong), 40ha đất trồng rau cạn (hành, cải xanh, mùng tơi, ngải cứu, rau diếp, xà lách, các loại rau thơm), 28ha đất trồng lúa và 2,0ha mặt nước để nuôi cá. Nguồn cấp nước chính để trồng rau, lúa và nuôi cá của thôn Bằng B là sông Tô Lịch.
Mục tiêu của Đề tài:
- Đánh giá hiện trạng ô nhiễm môi trường vùng trồng rau có sử dụng nước thải sông Tô Lịch để tưới.
- Tìm hiểu các nguồn gây ô nhiễm
- Đưa ra các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm
Nội dung nghiên cứu của Đề tài:
1. Xác định mức độ ô nhiễm đối với môi trường đất, môi trường nước, môi trường không khí và trong rau tại thôn Bằng B, phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, Hà Nội
2. Xác định rõ nguồn gây ô nhiễm kim loại nặng
3. Đề xuất, kiến nghị các biện pháp cải thiện tình hình ô nhiễm.
Báo cáo gồm 72 trang
ở nhiều nước trên thế giới và ở Việt Nam, nước thải đô thị đã và đang được sử dụng vào mục đích nông nghiệp. ở thành phố Uppsala (Thụy Điển), nước thải sau khi xử lý bằng hồ sinh học được tưới cho cây “Năng lượng-Energy”, còn ở Anh và CHLB Đức ngay từ đầu thế kỷ 19 đã xây dựng những cánh đồng chuyên tưới nước thải đã được xử lý cơ học. Sang đầu thế kỷ 20, chỉ tính riêng Châu Âu đã có 80.000 - 90.000 ha đất nông nghiệp được tưới bằng nước thải đô thị. ở Mỹ, hồ sinh học đang được sử dụng để xử lý nước thải công nghiệp thực phẩm, giấy, hóa chất, sản xuất dầu lửa. Một phần nước thải sau khi xử lý ở hồ sinh học được đổ vào sông hồ tự nhiên, một phần lớn còn lại được sử dụng vào mục đích tưới tiêu. ở úc, toàn bộ nước thải của thành phố Melbourne được xử lý bằng hồ sinh học, sau đó chúng được sử dụng để tưới cây tại các khu đô thị và trồng cây cảnh [27].
Thôn Bằng B, quận Hoàng Mai, Hà nội có thể được coi là một vùng sinh thái đặc trưng ven đô thị ở đồng bằng chịu ảnh hưởng của nước thải đô thị. Nước thải đô thị đã và đang được sử dụng để tưới cho lúa, rau màu và nuôi cá. Kết quả nghiên cứu của Trịnh Thị Thanh, Nguyễn Xuân Thành, hoặc của Vũ Quyết Thắng, hay của Viện Môi trường và phát triển bền vững đều cho thấy nước thải đô thị là nguồn nước chính cung cấp cho sản xuất nông nghiệp của nhiều xã dọc theo các con sông Tô Lịch, Kim Ngưu và ven hồ Yên Sở. Việc sử dụng nước thải trong nông nghiệp đã có những ảnh hưởng đến chất lượng rau, cá và sức khỏe cộng đồng.
Sử dụng nước thải để trồng rau là một trong những vấn đề thực tế đặt ra cần giải quyết nhằm bảo vệ môi trường và sức khoẻ con người. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy, tính chất nước thải đô thị đang diễn biến theo chiều hướng không còn phù hợp với các hoạt động sản xuất nông nghiệp nói chung và việc canh tác rau nói riêng. Bên cạnh những hậu quả độc hại do thực phẩm nhiễm độc gây ảnh hưởng cấp tính đến sức khoẻ con người còn có những ảnh hưởng mãn tính. Nhìn chung, những ảnh hưởng này rất nguy hiểm, do tính chất nguy hại mang tính tiềm ẩn và thường chỉ biểu hiện khi sức khoẻ con người suy yếu, khi hàm lượng chất độc tích đọng trong cơ thể tới mức độ nhất định nào đó.
Hiện nay, nhu cầu rau nói chung và nhu cầu về rau sạch nói riêng ngày càng tăng. ở Hà Nội bình quân mỗi ngày tiêu thụ khoảng 200 tấn rau quả các loại. Phần lớn rau được sản xuất ở những vùng lân cận và được tiêu thụ trong thành phố chưa qua giám định chất lượng. Cùng với những nhận thức đúng đắn về vai trò của vệ sinh an toàn thực phẩm, trong những năm gần đây, chất lượng của các loại thực phẩm trong đó có rau xanh ngày càng được xã hội đặc biệt quan tâm. Do vậy đề tài nghiên cứu ô nhiễm môi trường làng nghề trồng rau ngoại thành Hà Nội được đặt ra nhằm làm rõ những vấn đề nêu trên.
Địa bàn tiến hành nghiên cứu được lựa chọn: Thôn Bằng B, Phường Hoàng Liệt, Quận Hoàng Mai, Hà Nội. Địa bàn nghiên cứu đại diện cho vùng trồng rau sử dụng nước thải của thủ đô Hà Nội để tưới. Quận Hoàng Mai là vùng đất thấp nhất nằm ở phía nam của thành phố Hà Nội và là nơi tiếp nhận nước thải của 4 con sông chảy từ nội thị vào (sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu, sông Lừ, sông Sét).
Thôn Bằng B thuộc phường Hoàng Liệt có khoảng 7,1 ha đất trồng rau nước (rau rút, rau muống, rau cần, rau cải xoong), 40ha đất trồng rau cạn (hành, cải xanh, mùng tơi, ngải cứu, rau diếp, xà lách, các loại rau thơm), 28ha đất trồng lúa và 2,0ha mặt nước để nuôi cá. Nguồn cấp nước chính để trồng rau, lúa và nuôi cá của thôn Bằng B là sông Tô Lịch.
Mục tiêu của Đề tài:
- Đánh giá hiện trạng ô nhiễm môi trường vùng trồng rau có sử dụng nước thải sông Tô Lịch để tưới.
- Tìm hiểu các nguồn gây ô nhiễm
- Đưa ra các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm
Nội dung nghiên cứu của Đề tài:
1. Xác định mức độ ô nhiễm đối với môi trường đất, môi trường nước, môi trường không khí và trong rau tại thôn Bằng B, phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, Hà Nội
2. Xác định rõ nguồn gây ô nhiễm kim loại nặng
3. Đề xuất, kiến nghị các biện pháp cải thiện tình hình ô nhiễm.
Báo cáo gồm 72 trang