Đề tài: Đường lối Đổi mới nền kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng (1986-2006)
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2. Lịch sử, phương pháp nhiên cứu
3. Giới hạn nghiên cứu
PHẦN NỘI DUNG
I. NHỮNG TIỀN ĐỀ CỦA TƯ TƯỞNG ĐỔI MỚI
II. ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỔI MỚI VỀ KINH TẾ
III. QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI VỀ KINH TẾ
IV. TÍNH TẤT YẾU CỦA QÚA TRÌNH ĐỔI MỚI
V. NHỮNG PHƯƠNG HƯỚNG CƠ BẢN CỦA CHÍNH SÁCH KINH TẾ
1. Bố trí lại cơ cấu sản xuất, điều chỉnh lớn cơ cấu đầu tư
2. Xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế
3. Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế
4. Khoa học kỹ thuật
5. Đường lối đối ngoại đổi mới của Đảng cộng sản việt Nam
VI. THÀNH TỰU
VII. HẠN CHẾ
VIII. KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đổi mới là một chương trình cải cách toàn diện các mặt của đời sống xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng vào thập niên 1980. Chính sách đổi mới được chính thức thực hiện từ Đại hội Đại biểu Đảng Cộng Sản Việt Nam lần VI, năm 1986. Trong tất cả các lĩnh vực đổi mới như xã hội,chính trị , văn hoá Đổi mới về kinh tế được thực hiện trước tiên và là vấn đề được đảng và nhà nước chú trọng nhất và đầu tư phát triển từng bước. Từ đó sẽ là nền tảng phát triển các lĩnh vực khác của xã hội . Trong những năm đầu thế kỷ 21, Việt Nam mới bắt đầu thực hiện.
Đổi mới ở Việt Nam tương tự quá trình cải tổ của các nước Đông âu, cải cách Khai Phóng ở Trung Quốc và đổi mới ở Lào .
Quan điểm đổi mới về kinh tế đã được hoàn thiện dần trong quá trình thực hiện. Ngày nay, đổi mới về kinh tế được Nhà Nước Việt Nam định nghĩa: Quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, hoạt động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong những năm đôỉ mới nước ta đã không ít gặp những khó khăn và thách thức nhưng dần dần cũng đã vượt qua và đạt dược những thành tựu lớn. Từ đó đưa nước ta trở thàn một một nước có nền kinh tế phát triển, hội nhập thế giới, cạnh tranh với các cường quốc khác. Hiện nay còn niều vấn đề cơ bản, lý luận chưa đáp ứng được yêu cầu và thực tiễn xây dựng đất nước.Vì vậy, việc nghiên cứu vấn đề này là vô cùng quan trọng nhằm xây dựng một hệ thống quan điểm và nhận thức tương đối hoàn chỉnh và cụ thể về mục tiêu và định hướng về nền kinh tế nước ta.
Nghiên cứu về nền kinh tế giúp ta hiểu đươc nền kinh tế hiên nay của nước ta cũng như một số nước khác trên thế giới nó là một vấn đè rất quan trọng đối với một sinh viên việt nam hiên nay để từ đó có thể nêu ra những nhu cầu của người dân hiên nay đồng thời cũng nêu ra những sai lệch mà đảng ta mắc phải.
2. Lịch sử, phương pháp nhiên cứu
Vấn đề kinh tế nóng bỏng của thế giới ngày nay không chỉ đựơc các nhà kinh tế học nhiên cúu mà còn được tấ cả mọi người quan tâm . Đồng thời đây cũng là nhiệm vụ quan trọng, cần thiết của Đảng ta để tổng kết, đánh giá từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong giai đoạn tiếp theo.
Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành bài viết này, em đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
+ Đọc sưu tầm tài liệu, từ đó nêu ra những nhận xét của mình
+ Phương pháp liên ngành kết hợp với các bô môn khoa học khác (Lịch sử đảng, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Tư tưởng Hồ Chí Minh)
3. Giới hạn nghiên cứu
Kinh tế là một vấn đề rộng lớn , để tìm hiểu đi sâu vào nền kinh tế nước ta trên cơ sở tìm tài liệu em đi sâu vào nội dung của chính sách kinh tế mà đảng và nhà nước đã đề ra trong đại hội lần VI (12- 1986 ). Từ đó nêu ra nhận xét của mình về nền kinh tế của nước mình, thành tựu và kết quả đạt được. sau đó là hạn chế mà công cuộc đổi mới đã mắc phải, nó như một sự tất yếu mà công cuộc đổi mới hay cải cách mở cửa của các nước khác đều không thể tránh khỏi. Để làm rõ những chính sách của nhà nước ta em nêu một số chính sách, bài học để áp dụng hay tránh những khuyết điểm mà Trung Quốc đã mắc phải vào nước ta của công cuộc mở cửa – cải cách của Trung Quốc.
PHẦN NỘI DUNG
I. NHỮNG TIỀN ĐỀ CỦA TƯ TƯỞNG ĐỔI MỚI
Kết hợp giữa cơ chế thị trường và cơ chế kế hoạch hoá tập trung là hết sức xa lạ với quan niện của những người theo chủ nghĩa marx cổ điển . Họ nhiều lần nhấn mạnh rằng cơ chế thị trường là cơ chế hoạt động kém , cần phải được thay bằng cơ chế kế hoạch hoá có ý thức . Một trong những mục đích của việc xoá bỏ hệ thống sở hữu tư nhân chính là để chem dứt cách điều phối sản xuất thị trường một cách mù quáng và dọ dẫm , để thay thế nó bằng kế hoạch có ý thức.
Oscar lange đã phác hoạ một nền kinh tế mà các công ty sở hữu công cộng có thể tối đa hoá lợi nhuận của mình hoặc hoạt động theo công thức tối ưu hoá gần như thế . Cơ quan kế hoạch trung ương cố gắng thiết lập các giá cả cân bằng và làm trong sạch thị trường bằng cách mô phỏng cơ chế thị trường : Khi thấy dư cầu , nó tăng lên và khi thấy dư cung , nó giảm xuống . Ông khẳng định rằng một hệ thống như vậy có khả năng cân bằng giữa cung và cầu
Tuy nhiên , Fridrich von hayek đã bác bỏ tư tưởng trên của lange bằng lập luận : Vấn đề lớn thực sự của chủ nghĩa xã hội không phải là việc liệu nó có thiết lập được giá cả cân bằng hay không mà là vấn đề có những động cơ khuyến khích gì để thu thập và áp dụng nhanh chóng những thông tin nhất thiết là tản mạn , lẫn lộn ở nhiều chỗ khách nhau. Những thông tin tản mạn đó được Hayek gọi là tri thức riêng phần, những tri thức được sở hữu và chỉ được sử dụng tốt nhất bởi mỗi cá nhân.
Trong bài luận “Sử dụng tri thức trong xã hội ” (the use of Knowledge in Society) đăng trên chuyên san American Economic Review năm 1945 , Hayek cho thấy rằng kế hoach hoá kinh tế tỏ ra kém hiệu quả hơn so với tự do hoá kinh tế bởi vì kế hoạch hoá không thể giải được bài toán của hệ thống giá cả là một hệ thống tự phát giúp con người truyền tải tri thức cần thiết từ người này sang người khác để phối hợp với kế hoạch cá nhân riêng rẽ. Chính vì thế, Hayek chủ trương rằng cần phải để nền kinh tế hoạt động tự do trên nguyên tắc của cơ chế thị trường .
II. ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỔI MỚI VỀ KINH TẾ
- Nhà nước chấp nhận sự tồn tại bình đẳng và hợp pháp của nhiều thành phần kinh tế (Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ IX quy định có sáu thành phần kinh tế: kinh tế Nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài), nhiều hình thức sở hữu (sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, sở hữu hỗn hợp). Tuy nhiên, kinh tế Nhà nước vẫn còn giữ vai trò chủ đạo.
- Cơ chế kinh tế là kinh tế thị trường xã hội, một trường phái kinh tế học mà đại biểu tiêu biểu của nó là Paul Samuelson – Nobel kinh tế năm 1970 –với lý thuyết về nền kinh tế hỗn hợp. Luận điểm của nó là nền kinh tế thị trường nhưng có sự quản lý của Nhà nước, nền kinh tế được vận hành bởi hai bàn tay : thị trường và Nhà nước . Điều này có ưu điểm là nó phát huy tính tối ưu trong phân bổ nguồn nhân lực xã hội để tối đa hoá lợi nhuận thông qua cạnh tranh, mặt khác, sự quản lý của Nhà nước giúp tránh được những thất bại của thị trường như lạm phát, phân hoá giàu nghèo, khủng hoảng kinh tế
- Định hướng xã hội chủ nghĩa: Theo quan điểm trước đổi mới , Nhà nước Việt Nam cho rằng kinh tế thị trường là nền kinh tế của chủ nghĩa tư bản và hoạt động không tốt . Sau đổi mới , quan điểm của Nhà nước Việt Nam là kinh tế thị trường là thành tựu chung của loài người , không mâu thuẫn với chủ nghĩa xã hội . Định hướng xã hội chủ nghĩa được hiểu là vẫn giữ vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước trong nền kinh tế , vì theo quan điểm của chủ nghĩa marx về chủ nghĩa xã hội thì mọi tư liệu sản xuất đều thuộc sở hữu toàn dân và Nhà nước xã hội chủ nghĩa là Nhà nước đại diện cho nhân dân.
- Nền kinh tế chuyển từ khép kín, đóng cửa, sang mở cửa, hội nhập với thế giới.
III. QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI VỀ KINH TẾ
Giai đoạn, đầu thập niên 1980, khủng hoảng kinh tế –xã hội nổ ra , lạm phát tăng lên mức phi mã đặc biệt sau hai cuộc chỉnh giá-lương –tiền
- 1986: Đại hội đại biểu toàn quốc lần VI của Đảng Cộng Sản Việt Nam chính thức thực hiện đổi mới, bắt đầu thực hiện công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước.
- 1 tháng 3năm 1987: Giải thể các trạm kiểm soát hàng hoá trên các tuyến đường nhằm thúc đẩy lưu thông hàng hoá.
- 5 tháng 4 năm 1988: Bộ Chính trị ra Nghị quyết 10/NQ về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp (hay còn gọi là khoản 10).
- 1989: Tung Quốc xảy ra sự kiện Thiên An Môn . Năm 1991, Liên Xô sụp đổ. Tuy nhiên, đánh giá về các sự kiện này, Đảng Cộng Sản Việt Nam quyết định tiếp tục đổi mới theo con đường đã chọn và vẫn thực hiện chủ nghĩa xã hội .
- 1990: bắt đầu thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước. Tháng 5 năm 1990: háp lệnh ngân hàng Nhà nước Việt Nam và pháp lệnh ngân hàng chính thức chuyển ngân hàng từ một cấp sang hai cấp.
- 1993 :Bình thường hoá quan hệ tài chính với các tổ chức
- 2000 : Luật Doanh nghiệp ra đời .
- 2001 : Ban hành luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam .
- 2002 : Tự do hoá lãi suất cho vay VND cho các tổ chức tín dụng
- 2005 : Luật cạnh tranh chính thức có hiệu lực
- 2006 : Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng cộng sản Việt Nam chấp nhận cho đảng viên làm kinh tế tư nhân
- 7/11/2006 : Việt Nam là thành viên chính thức thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới .
IV. TÍNH TẤT YẾU CỦA QÚA TRÌNH ĐỔI MỚI
1. Trước thời kỳ đổi mới nước ta đang trong tình trạng trầm trọng nhất của khủng hoảng kinh tế xã hội : Sản xuất đình đốn , lạm phát tăng vọt , đất nước bị bao vây về kinh tế , đời sống nhân dân hết sức khó khăn , lòng tin vào Đảng , sự lãnh đạo của Đảng bị giảm sút , những điểm sai lầm , nóng vội
Đổi mới trở thành đòi hỏi bức thiết của xã hội
2. Trên thế giới , chủ nghĩa xã hội hiện thực đang tìm lối thoát cho cuộc khủng hoảng với những tên gọi khác nhau : “ cải cách , mở cửa “ ở Trung Quốc , cải tổ ở Liên Xô . Điều đó đã tác động vào hoàn cảnh nước ta . Mặt khác , những tác động từ xu thế toàn cầu hoá, đòi hỏi dân tộc ta phải vươn lên mạnh mẽ để vượt qua những thách thức , tranh thủ thời cơ trong hội nhập quốc tế . Để giữ vững bản chất cao quý đáng tự hào của đảng ta , dân tộc ta , chế độ ta để hoà nhịp với những thay đổi của thời đại
Chúng ta phải đổi mới .
Công cuộc đổi mới của Trung Quốc
Trước thời kỳ đổi mới của nhà nước ta, Trung Quốc cũng tiến hành công cuộc cải cách – mở cửa ( 1978 -1998) . Trung quốc đã bước vào thời kỳ mới cải cách mở cửa và xây dựng hiện đại hoá xã hội chủ nghĩa , sau hai mươi năm cải cách mở cửa , tốc độ tăng trưởng kinh tế của trung quốc đạt cao nhất thế giới , sức mạnh tổng hợp của đất nước được tăng cường , đời sống nhân dân được cải thiện , vị thế quốc tế được nâng cao . Từ 1978 đến nay thực hiện cải cách mở cửa Trung Quốc đã chuyển sang một bước ngoặt lịch sử từ một quốc gia khép kín nửa đóng nửa mở trì trệ , bần cùng và lạc hậu trở thành một quốc gia ổn định , phồn vinh .
Cũng như Việt Nam Trung Quốc cũng tiến hành cuộc cải cách của mình theo phương hướng :
+ Cải cách toàn diện song phải coi cải cách thể chế kinh tế là trọng điểm .
+ Lựa chọn thể chế kinh tế thị trường thay thế cho nền kinh tế kế hoạch hoá truyền thống .
+ Kết hợp chặt chẽ giữa cải cách trong nước và mở cửa ra thế giới
Đây cũng là bài học được rút ra qua công cuộc cải cách , mở cửa của Trung Quốc. Nó không chỉ có giá trị tham khảo bổ ích cho các quốc gia đang có hướng phát tỉiển tương tự đặc biệt là nước ta trong tình hình nề kinh tế đang bị khủng hoảng cần có bước đi đúng đắn đẻ dưa đất nước đúng lên.
Powered by vBulletin® Version 4.1.10 Copyright © 2012 vBulletin Solutions, Inc. All rights reserved.