Đề tài: Cổ phần hoá - Một trọng những chủ trương quan trọng của quá trình cải tổ các doanh nghiệp Nhà nước ở nước ta
MỤC LỤC
[/size] LỜI NÓI ĐẦU
I. CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ KINH NGHIỆM CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
1. Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước là sự lựa chọn tất yếu
2. Kinh nghiệm cổ phần hoá DNNN ở một số nước, bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
II. DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ THỰC TRẠNG CỔ PHẦN HOÁ DNNN
1. Thực trạng DNNN ở Việt Nam trong bước chuyển sang kinh tế thị trường
2. Tiến trình cổ phần hoá DNNN ở Việt Nam.
3. Các yếu tố tác động tới quá trình cổ phần hoá DNNN ở nước ta hiện nay.
III. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐẺ THÚC ĐẨY NHANH QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HOÁ DNNN TRONG THỜI GIAN TỚI.
1. Những quan điểm cơ bản cần quán triệt trong cổ phần hoá.
2. DNNN cổ phần hoá có thể tồn tại dưới các hình thức
KẾT LUẬN
LỜI NÓI ĐẦU
Trên cơ sở đổi mới tư duy kinh tế, những năm gần đây nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung ở nước ta đã từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường như một đòi hỏi tất yếu của sự phát triển. Trong điều kiện cơ chế quản lý thay đổi, khi hiệu quả sản xuất kinh doanh trở thành yếu tố sống còn của mỗi doanh nghiệp thì các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế nhà nước đã bộc lộ đầy đủ những yếu kém, lâm vào tình trạng sa sút và khủng hoảng. Vậy vấn đề đặt ra là làm thế nào để cấu trúc lại sở hữu nhà nước và cải cách khu vực kinh tế nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả và vai trò của nó theo tinh thần các nghị quyết đại hội VI và VII của Đảng. Vấn đề này đã được nhiều nhà kinh tế học, lý luận học, nghiên cứu kỹ lưỡng và họ đã đưa ra được những giải pháp cơ bản, phù hợp với tình hình kinh tế nước ta hiện nay. Một trong những giải pháp có tính chiến lược nhất là "tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước nhằm đa dạng hoá sở hữu, đưa yếu tố cạnh tranh làm động lực tăng hiệu quả kinh doanh và xác lập một mô hình hữu hiệu trong nền kinh tế thị trường". Xét trên một mức độ quan trọng của chiến lược này, đồng thời cũng là giải pháp có tính phổ biến để cải cách khu vực kinh tế nhà nước ở hầu hết các nước trên thế giới, nên tôi quyết định chọn nghiên cứu đề tài "Cổ phần hoá - Một trọng những chủ trương quan trọng của quá trình cải tổ các doanh nghiệp Nhà nước ở nước ta" với tư cách là một công trình khoa học. Tuy nhiên đây cũng là một vấn đề hết sức mới mẻ đối với tình hình nước ta, nó vẫn còn đang được nghiên cứu, tìm tòi. Vì vậy, trong khuôn khổ bài viết này tôi chỉ xin đề cập một vài suy nghĩ có liên quan đến đề tài
I. CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ KINH NGHIỆM CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
1. Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước là sự lựa chọn tất yếu
- Từ thực tiễn tiến hành công cuộc phát triển nền kinh tế đất nước theo định hướng XHCN và những kinh nghiệm thu được qua quá trình chỉ đạo, điều hành sản xuất kinh doanh chúng ta đã xác định được rằng cải cách doanh nghiệp nhà nước một cách triệt để là yêu cầu có tính quyết định để tăng cường động lực phát triển sản xuất và thúc đẩy doanh nghiệp nhà nước hoạt động có hiệu quả hơn.
Trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã kiên trì tập trung tiến hành công tác. Sắp xếp, đổi mới các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và đã đạt được một số kết quả nhất định như giảm mạnh số lượng DNNN, nâng quy mô vốn bình quân, giảm bớt được sự tài trợ ngân sách, tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, bước đầu đã phát huy được quyền chủ động kinh doanh của đơn vị kinh tế cơ sở, giảm mạnh sự can thiệp hành chính vào hoạt động sản xuất kinh doanh.
Tuy nhiên, do đặc điểm và thực trạng DNNN của nước ta quá trình này vẫn còn phải tiến hành một cách thận trọng, lâu dài vì phải giải quyết đồng bộ nhiều vấn đề phức tạp trong cả lĩnh vực kinh tế và trong lĩnh vực đời sống xã hội mới đạt được kết quả mong muốn.
Hiện nay, bên cạnh các khó khăn chủ quan xuất phát từ nơi bị nền kinh tế, thì biến động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực đang tiếp tục lan rộng và theo chiêù sâu cũng sẽ đồng thời ảnh hưởng theo chiều hướng xấu đến nền kinh tế nước ta. Điều này cho thấy tính cấp bách phải khẩn trương nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế để đảm bảo cho sự phát triển đất nước một cách ổn định, vững chắc không những cho những năm trước mắt mà cả tương lai lâu dài. Nghị quyết Hội nghị trung ương 4 (khoá VII) đã dành một phần quan trọng cho mục tiêu đổi mới mạnh mẽ các DNNN, phấn đấu đưa chúng thực sự trở thành lực lượng chủ đạo dẫn dắt các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác cùng phát triển, làm nòng cốt để thực hiện thành công tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập kinh tế thế giới có hiệu quả. Tiếp theo, chính phủ đã có chỉ thị số 20/TTg ngày 21 - 4 - 1998 trong đó đã đề ra chương trình, kế hoạch cụ thể triển khai thực hiện vàquyết tâm thông qua đợt sắp xếp này để hình thành một cơ cấu doanh nghiệp nhà nước hợp lý mạnh được quản lý tốt. Cổ phần hoá là một trong những nội dung quan trọng trong quá trình đổi mới, sắp xếp doanh nghiệp nhà nước.
Cổ phần hoá DNNN lần đầu tiên được nên tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 BCH Trung ương khoá VII (tháng 11 - 1994) và tiếp tục đựơc cụ thể hoá tại Nghị quyết Hội nghị giữa nhiệm kỳ khoá VII (tháng 1 - 1994), Nghị quyết 10, nghị quyết TW của Bộ Tài chính ngày 17 - 3 - 1995. Thông báo số 63/TB - TƯ ngày 4 - 4 - 1997, và được khẳng định rõ hơn tại nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 4 (khoá VIII).
1.1. Mục tiêu nhất quán của cổ phần hoá một bộ phận DNNN là để huy động vốn, tạo điều kiện để người lao động được làm chủ thực sự trong doanh nghiệp, tạo động lực bên ngoài thay đổi phương thức quản lý nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Về việc huy động vốn thì trong thời gian qua ngân sách nhà nước đã phải đầu tư một tỷ trọng vốn lớn cho các doanh nghiệp nhà nước nhưng hiệu quả thu lại rất thấp trong khi ngân sách nhà nước laị có hạn và phải dàn trải cho nhiều khoản chi tiêu khác . Qua số liệu điều tra năm 1995 (tổng cục thống kê) cho thấy. Trong 6544 DNNN (trong tổng số 7060 doanh nghiệp) đang hoạt động có 3268 doanh nghiệp thuộc diện giải thể hoặc chuyển đổi hình thức sở hữu, chiếm 49,95% số doanh nghiệp được nhà nước đầu tư. Để xử lý tình trạng thiếu vốn và tạo cơ chế quản lý tài chính có hiệu lực, thực sự rằng buộc trách nhiệm, trong sản xuất kinh doanh của các DNNN thì giải pháp cần làm là thực hiện cổ phần hoá một số DNNN.
Cổ phần hoá cho phép tách quyền sở hữu và quyền quản lý tài sản của doanh nghiệp nhằm đưa lại lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp. Cổ phần hoá sẽ huy động các nguồn vốn nhãn rỗi trong xã hội một cách nhanh chóng để phát triển sản xuất kinh doanh. Khi doanh nghiệp làm ăn có lãi thì nguồn vốn dồi dào trong dân cư sẽ đổ vào nơi có lợi nhuận cao, làm cho các doanh nghiệp cổ phần hoá, ngày càng có vốn lớn từ đó có điều kiện trang bị kỹ thuật hiện đại hơn, mở rộng sản xuất. Đồng thời đồng vốn ngày càng sử dụng tốt tái tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể phát hành cổ phiếu liên tục. Cổ phiếu có thể chuyển nhượng cho nhau sẽ thúc đẩy lưu thông tiền vốn. Mặt khác doanh nghiệp có thể phát hành trái phiếu để bổ sung thêm vốn khi cần thiết. Các doanh nghiệp khi đã cổ phần hoá sẽ liên doanh được với các doanh nghiệp trong và ngoài nước từ đó sẽ thu hút được nhiều vốn hơn nữa.
1.2. Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định số 202/CT ngày 8/6/1992 và chỉ thị số 84/TTg ngày 4/3/1993 về việc thí điểm cổ phần hoá và giải pháp đa dạng hoá các hình thức sở hữu đối với các DNNN. Trong chủ trương này một trong những vấn đề mà người lao động rất quan tâm khi cổ phần hoá là việc làm và thu nhập của họ có được bảo đảm không?
Vấn đề này đặt ra cũng là câu hỏi hết sức đáng chú trọng đối với những nhà chức trách nói chung và các DNNN nói riêng. Nhưng thực tế ở những doanh nghiệp đã cổ phần hoá cho thấy, sau khi chuyển thành công ty cổ phần việc làm và thu nhập của người lao động không những được baỏ đảm mà các công ty còn thu hút thêm hơn 1000 lao động mới vào làm việc, tiền lương và thu nhập của họ cũng tăng đáng kể. Chẳng hạn: Công ty chế biến thức ăn gia súc VIFOCO, trước cổ phần hoá gặp không ít khó khăn trong sản xuất kinh doanh, sản phẩm làm ra không tiêu thụ được dẫn đến thiếu việc làm, thu nhập thấp, sau khi chuyển thành công ty cổ phần, nhờ thu hút được vốn đầu tư cho sản xuất, đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức quản lý, tình hình sản xuất kinh doanh đã có những thay đổi rõ rệt, sản phẩm của công ty được tiêu thụ rất mạnh trên thị trường. Trước cổ phần hoá trung bình 1 năm công ty chỉ tiêu thụ được 6000 tấn thức ăn gia súc các loại, sau cổ phần hoá (1996) mức tiêu thụ sản phẩm tăng lên gấp 3 lần so với trước (18500 tấn). Số lao động cũng tăng lên đáng kể, trước cổ phần hoá (1994) công ty có 92 cán bộ công nhân viên, sau cổ phần hoá (1996) đã tăng lên 123 người. Đời sống của công nhân lao động được cải thiện một cách rõ rệt thể hiện ở thu nhập bình quân hàng tháng, trước cổ phần hoá bình quân thu nhập của cán bộ CNV trong công ty là 524đ/tháng. Sau cổ phần hoá (1996) thu nhập bình quân là 1,2 triệu đồng/tháng.
- Cũng như nhiều DNNN khác, trước cổ phần hoá công ty cơ điện lạnh cũng gặp không ít khó khăn, nhất là về vốn và việc làm của người lao động, từ khi có quyết định chuyển thành công ty cổ phần (tháng 10/1995) nhờ phát hành cổ phiếu có thêm vốn đầu tư, mở rộng sản xuất, tạo việc làm mới, thu hút thêm nhiều lao động vào làm việc. Trước cổ phần hoá công ty có 334 công nhân viên, sau khi chuyển thành công ty cổ phần, hàng năm số lao động mới được tuyển vào làm việc đều tăng. Năm 1994 công ty thu hút 84 người vào làm việc năm 1995 thu hút 79 người, năm 1996 công ty thu hút thêm 153 người. Như vậy sau 3 năm cổ phần hoá công ty cơ điện lạnh đã tạo ra 313 chỗ làm việc mới đưa tổng số lao động trong công ty từ 334 người (1993) lên 647 người (1996).
- Về tiền lương của người lao động không những việc được bảo đảm mà còn tăng đáng kể so với khi còn là DNNN. Trước cổ phần hoá tiền lương của người lao động là 647 ngàn đồng/tháng đến năm 1996 lương bình quân là 1,3 triệu đồng/tháng.
Đại lý liên hiệp vận chuyển cũng là một trong những doanh nghiệp đi đầu trong công tác cổ phần hoá. Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty cho thấy các năm sau đều cao hơn so với các năm trước. Đặc biệt là việc làm và thu nhập của người lao động. Năm 1993 trước khi chuyển thành công ty cổ phần, đơn vị có 56 cán bộ công nhân viên, sau cổ phần hoá (CPH) (1994) số lao động tăng lên 156 người, năm 1996 tăng lên 268 người. Thu nhập của người lao động tăng từ 800 nghìn đồng/tháng (1993) lên 1,4 triệu đồng (1994) và 2,5 triệu đồng/tháng (1996).
Tình hình sản xuất kinh doanh, vấn đề lao động việc làm và thu nhập của người lao động ở các công ty cổ phần còn lại những đều tăng cao hơn so với khi các doanh nghiệp này chưa chuyển thành công ty cổ phần.
Qua những con số nêu trên cho thấy các DNNN thực hiện cổ phần hoá không những bảo đảm được các mục tiêu kinh tế là huy động vốn, phát triển sản xuất kinh doanh . mà còn bảo đảm được các mục tiêu xã hội như phát huy vai trò làm chủ của công nhân lao động, tạo việc làm mới, tăng thu nhập làm cho người lao động an tâm tham gia vào quá trình cổ phần hoá, thúc đẩy quá trình này tiến lên nhanh, vững chắc đạt được những mục tiêu của chính phủ đã đề ra.
Powered by vBulletin® Version 4.1.10 Copyright © 2012 vBulletin Solutions, Inc. All rights reserved.