PDA

Xem tài liệu đầy đủ : Luận Văn Thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành dệt may Việt Nam sau khi gia nhập WTO



Ghost
29-09-2010, 00:36
LỜI MỞ ĐẦU


Thế kỷ XX qua đi, thế kỷ XXI đã tới, thế giới đã đi qua những chặng đường dài đầy thử thách song cũng đầy vinh quang. Xu hướng hiện tại và tương lai của thế giới là hoà bình, hợp tác và cùng phát triển.
Việt Nam, cũng như nhiều nước khác trên, đều cố gắng hoà nhịp với dòng chảy chung của thế giới. Nhu cầu phát triển kinh tế, xây dựng đất nước không cho phép chúng ta đứng ngoài xu thế, cuộc chơi chung của nhân loại. Biểu hiện tích cực mới đây nhất thể hiện sự chủ động hội nhập của Việt Nam vào nền kinh tế thế giới là việc chúng ta chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Việc gia nhập WTO chắc chắn sẽ đem lại cho Việt Nam nhiều cơ hội để phát triển kinh tế, nhưng đồng thời cũng đưa đến nhiều khó khăn trở ngại. Nền kinh tế Việt Nam có duy trì được tốc độ cao, ổn định hay không hoàn toàn tùy thuộc vào khả năng cạnh tranh cũng như khả năng ứng phó với những thách thức của nền kinh tế nói chung và của từng ngành nói riêng.
Trước khi gia nhập WTO, Việt Nam đã có một chiến lược dài hạn nhằm mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, trong đó tập trung vào phát triển một số ngành công nghiệp chủ lực. Chiến lược này không nằm ngoài mục tiêu chuẩn bị cả về lượng và chất để phát triển nền kinh tế, tạo chỗ dựa vững chắc khi hội nhập vào nền kinh tế quốc tế.
Trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa, cũng như nhiều nước khác trên thế giới, ngành dệt may đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Với lợi thế là ngành vừa cung cấp hàng hoá trong nước, thu hút nhiều lao động, đồng thời là ngành có lợi tức cao, đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn cho đất nước, công nghiệp dệt may luôn được chú trọng đầu tư, phát triển. Chiến lược phát triển kinh tế, với việc nhấn mạnh tầm quan trọng của chuyển đổi cơ cấu kinh tế và đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước bắt đầu từ Đại hội VI (1986) Đảng Cộng Sản Việt Nam, và được cụ thể hoá và phát triển ở các đại hội sau, đã đem lại cho ngành dệt may những động lực và định hướng phát triển mới: “ Phát triển mạnh công nghiệp nhẹ, nhất là dệt, may, da giầy, giấy, các mặt hàng thủ công mỹ nghệ; đầu tư hiện đại hoá dây chuyền công nghệ, nâng chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm; chuyển dần việc gia công dệt may, đồ da sang mua nguyên liệu, vật liệu để sản xuất hàng xuất khẩu; coi trọng nâng cao năng lực tiếp thị để mở rộng thị trường; khắc phục sự lạc hậu của ngành sợi, dệt, gắn với phát triển bông và thị trường tơ tằm .”[1]
Những khởi sắc của ngành công nghiệp dệt may những năm gần đây, đặc biệt là sau một năm Việt Nam gia nhập WTO là một minh chứng rõ nét cho khả năng vượt qua thách thức, vươn lên của ngành dệt may. Vấn đề đặt ra là, trong những năm tới đây, khi phải đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, ngành dệt may còn đủ khả năng để cạnh tranh với các đối thủ có tiềm lực ngày càng mạnh như Trung Quốc, Ấn Độ?
Xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn và tầm quan trọng của ngành công nghiệp dệt may đối với sự phát triển của nền kinh tế, đặc biệt là trong bối cảnh nước ta đã là thành viên của WTO, người viết đã chọn đề tài khoá luận: “Thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành dệt may Việt Nam sau khi gia nhập WTO”.
Trong quá trình viết, người viết đã cố gắng sử dụng các phương pháp như phân tích, so sánh, minh họa, đối chiếu, kiểm nghiệm thực tế nhằm đưa ra những đánh giá mang tính toàn diện, đúng đắn về năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp dệt may, cũng như định hình rõ những cơ hội, thách thức đặt ra đối với ngành dệt may sau khi gia nhập WTO, trên cơ sở đó đưa ra một số đề xuất, giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành.
Nội dung chính của khoá luận sẽ được trình bày ở ba chương:
Chương I: Vấn đề dệt may trong WTO
Chương II: Khả năng cạnh tranh của ngành dệt may Việt Nam
Chương III: Chính sách và biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam sau khi gia nhập WTO
Do đây là một đề tài có phạm vi bao quát rộng, trình độ và khả năng nghiên cứu của người viết còn nhiều hạn chế, nên khoá luận không tránh khỏi những sai sót. Vì vậy, người viết rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của thầy cô và bạn đọc.

Ghost
29-09-2010, 00:38
MỤC LỤC TÀI LIỆU


LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I: VẤN ĐỀ DỆT MAY TRONG WTO
1. Vấn đề dệt may trong Vòng đàm phán Urugoay
2. Hiệp định hàng dệt may ATC
3. Tác động của ATC đối với nhóm nước đang phát triển
4. Thị trường dệt may thế giới sau khi ATC hết hiệu lực
5. Tác động của xu hướng phát triển thị trường dệt may thế giới tới Việt Nam

CHƯƠNG II: KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP DỆT MAY VIỆT NAM
1. Tổng quan tình hình sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam
1.1. Qui mô, tốc độ tăng trưởng
1.2. Cơ cấu thị trường xuất khẩu
2. Năng lực cạnh tranh của ngành dệt may Việt Nam
2.1. Lợi thế của ngành dệt may Việt Nam
2.2. Hạn chế của ngành dệt may Việt Nam
3. Tác động của việc gia nhập WTO đến ngành dệt may Việt Nam
3.1. Cam kết của Việt Nam về dệt may khi gia nhập WTO
3.2. Tác động của những cam kết đối với ngành dệt may

CHƯƠNG III: CHÍNH SÁCH VÀ BIỆN PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM SAU KHI GIA NHẬP WTO
1. Mục tiêu của ngành dệt may giai đoạn sau khi gia nhập WTO
2. Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng dệt may VN sau khi gia nhập WTO
2.1. Chính sách của nhà nước
2.2. Các biện pháp của doanh nghiệp
Vai trò của các tổ chức hỗ trợ, đại diện thương mại, thương vụ tại nước ngoài
KẾT LUẬN
70 TRANG

Ghost
29-09-2010, 00:39
CHƯƠNG I VẤN ĐỀ DỆT MAY TRONG WTO

1. Vấn đề dệt may trong Vòng đàm phán Urugoay
Dệt may với đặc điểm là một ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động, luôn là một ngành nhạy cảm, không chỉ về khía cạnh kinh tế, mà cả khía cạnh chính trị đối với nhiều nước. Vấn đề dệt may, vì thế, luôn là đề tài được nhiều nước thành viên WTO, đặc biệt là những nước nhập khẩu và xuất khấu hàng dệt may đặc biệt quan tâm.
Tuy nhiên, do tính chất nhạy cảm, ảnh hưởng trực tiếp đến việc làm của nhiều lao động nên ngành công nghiệp dệt may thường được chính phủ các nước bảo hộ, nằm ngoài các nguyên tắc chung về thương mại tự do của GATT/WTO. Vì thế, trong suốt 30 trước khi diễn ra vòng đàm phán Urugoay (1986- 1994), thương mại quốc tế về dệt may chỉ được thực hiện dựa trên các thoả thuận về hạn ngạch song phương như: Hiệp định ngắn hạn về thương mại hàng dệt và bông (STA) năm 1961, Hiệp định dài hạn về hàng dệt và bông (LTA) năm 1963- 1973, Hiệp định hàng đa sợi (MFA) năm 1974- 1994.
Các hiệp định dệt may này đều duy trì việc thực hiện thương mại dệt may dựa trên các thoả thuận hạn ngạch song phương có tính chất phân biệt đối xử giữa những nước xuất khẩu và cho phép các nước nhập khẩu hàng dệt may được áp dụng các biện pháp hạn chế khi có sự gia tăng đột ngột về khối lượng hoặc giá trị nhập khẩu dẫn đến nguy cơ gây rối loạn thị trường nước nhập khẩu. Phạm vi các mặt hàng bị áp hạn ngạch cũng ngày càng gia tăng: nếu như hai thoả thuận đầu (STA và LTA) chỉ hạn chế xuất khẩu đối với hàng dệt may bông sợi tự nhiên thì Hiệp định đa sợi MFA mở rộng phạm vi hạn chế sang cả mặt hàng bông sợi nhân tạo. Các biện pháp hạn chế này nhìn chung mang tính phân biệt đối xử giữa hàng hoá các nước, và “hầu như hoàn toàn để hạn chế số lượng nhập khẩu từ các nước đang phát triển”[1].
Về khía cạnh pháp lý, việc duy trì những hạn chế số lượng là trái với các nguyên tắc, qui định của GATT. Tuy nhiên, việc ra đời các thỏa thuận trên, đặc biệt là Hiệp định MFA đã tạo ra “cái ô pháp lý để có thể vi phạm những nguyên tắc của GATT”[2].
Về khía cạnh kinh tế, vô hình trung những hiệp định này không chỉ tạo ra sự phân biệt đối xử giữa hàng dệt may xuất khẩu của các nước đang phát triển mà còn làm gia tăng sự bảo hộ ở các nước phát triển đối với lĩnh vực dệt may (do nước nhập khẩu được quyền áp dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu khi thị trường trong nước bị ảnh hưởng do lượng nhập khẩu của hàng dệt may đột ngột tăng, tác động tiêu cực đến công nghiệp dệt may trong nước, mà không tính đến sự chênh lệch giá do lợi thế cạnh tranh của các nước đang phát triển đem lại chứ không phải do sự hỗ trợ từ phía nhà nước[3]).Có thể thấy, hệ thống này rất bất lợi cho các nước đang phát triển vốn có tiềm năng trong lĩnh vực này và điều này đã phần nào gây ra tình trạng bóp méo thương mại, làm chậm đi quá trình phát triển kinh tế ở cả các nước xuất khẩu và nhập khẩu, đồng thời làm giảm đi tính cạnh trạnh của ngành công nghiệp dệt may. Do đó, các hiệp định dệt may thường vấp phải sự phản đối của các nước đang phát triển. Các nước này đòi hỏi phải đưa vấn đề dệt may vào khuôn khổ của các nguyên tắc, qui định của GATT.
Trước tình hình đó, vòng đàm phán Urugoay (1986- 1994) đã đưa dệt may vào quĩ đạo điều chỉnh của GATT/WTO, xóa bỏ sự phân biệt đối xử qua chế độ hạn ngạch dệt may xuất nhập khẩu, xoá bỏ quyền áp đặt hạn ngạch của các nước phát triển, đưa lĩnh vực dệt may dần trở thành lĩnh vực được tự do hoá. Sự ra đời của Hiệp định hàng dệt may (ATC) năm 1994 thay thế cho Hiệp định MFA được coi là bước ngoặt lớn trong lịch sử thương mại dệt may thế giới. Bắt đầu từ đây, vấn đề dệt may không còn nằm ngoài quĩ đạo chung của GATT- WTO mà cũng chịu sự chi phối của các nguyên tắc, qui định của tổ chức này như bất kỳ vấn đề thương mại quốc tế nào khác.

1. Hiệp định hàng dệt may ATC

Hiệp định hàng dệt may ATC ra đời thay thế cho Hiệp định hàng đa sợi MFA chính là nỗ lực nhằm đưa thương mại quốc tế trong lĩnh vực dệt may trở lại khuôn khổ các nguyên tắc tự do hoá và không phân biệt đối xử của WTO. Đây được coi là hiệp định quốc tế chính thức điều tiết thương mại hàng dệt may, theo đó các nước nhập khẩu phải xoá bỏ hạn ngạch và các nước nhập khẩu không được phân biệt đối xử giữa các nước xuất khẩu.
Về cơ bản, ATC gồm những nội dung chính: đưa ra chương trình hội nhập bằng việc yêu cầu những nước nhập khẩu hàng dệt may hiện đang duy trì hạn ngạch phải xoá bỏ từng phần trong vòng 10 năm (phụ lục 1); đưa ra chương trình tự do hoá những biện pháp hạn chế số lượng, theo đó hạn ngạch liên tục giảm (cho đến khi bỏ hẳn hạn ngạch) bằng cách tăng tỉ lệ hạn ngạch gia tăng hạn ngạch hàng năm. Ngoài ra, ATC cũng đưa ra một cơ chế bảo vệ đặc biệt để giải quyết các trường hợp phát sinh gây thiệt hại nghiêm trọng đối với các nhà sản xuất trong nước, đồng thời đề cập đến việc thành lập Cơ quan theo dõi giám sát hàng dệt may (TMB) để giám sát việc thực hiện Hiệp định).
- Những điểm tiến bộ của ATC so với MFA
Mặc dù cả ATC và MFA đều nhằm điều chỉnh thống nhất mặt hàng dệt may nhưng nhìn chung, ATC có nhiều điểm tiến bộ và gần với các nguyên tắc của GATT (WTO) hơn.
Thứ nhất, do ra đời sau và có hiệu lực khi Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT đã được chính thức chuyển thành WTO- một tổ chức kế nhiệm GATT nhưng có địa vị pháp lý, phạm vi và tính ràng buộc cao hơn, cơ chế hoạt động chặt chẽ hơn nên ATC cũng có tính ràng buộc pháp lý chặt chẽ hơn so với MFA. MFA là một hiệp định tuỳ ý, các nước có thể tham gia hoặc không. Cho đến năm 1994, khi MFA hết hạn có 40 thành viên tham gia, trong khi đó, ATC là hiệp định trong khuôn khổ WTO và mang tính ràng buộc pháp lý đối với cả 150 nước thành viên.
Thứ hai, trong khi MFA là một cam kết mở, được gia hạn nhiều lần (4 lần gia hạn trong suốt 21 năm tồn tại) và đi kèm với nó là 90 hiệp định song phương và 29 hiệp định không nằm trong MFA và những biện pháp đơn phương hạn chế hàng nhập khầu dệt may[4] thì ATC lại thể hiện là một hiệp định có tính ổn định cao. ATC đã định ra được một lịch trình thực hiện gồm 4 giai đoạn trong vòng 10 năm. Theo đó, toàn bộ hệ thống hạn ngạch xuất khẩu được áp dụng trong lĩnh vực dệt may từ những năm 60 sẽ được dỡ bỏ vào thời điểm 1/1/2005 và mặt hàng dệt may sẽ được điều tiết bởi những qui định của WTO. Như vậy, việc thực hiện theo ATC được thực hiện một cách ổn định theo một lịch trình đã được định sẵn.
Thứ ba, là việc thành lập Cơ quan theo dõi giám sát hàng dệt may TMB và Cơ quan giải quyết tranh chấp (DSB) với thủ tục tố tụng hoàn chỉnh. Điều này đảm bảo rằng việc thực hiện ATC sẽ được giám sát chặt chẽ hơn, và việc giải quyết tranh chấp là theo trình tự thống nhất và phán quyết đưa ra có tính pháp lý bắt buộc thực hiện.
Thứ tư, trong khi MFA là một ngoại lệ, trái với nguyên tắc thương mại tự do của GATT- WTO khi cho phép sử dụng những biện pháp hạn chế số lượng thì ATC lại đặt ra mục tiêu chính là đưa thương mại dệt may tuân thủ những qui định của WTO bằng cách yêu cầu các nước thành viên phải loại bỏ dần các hạn chế số lượng và giảm thuế. ATC chỉ cho phép các nước áp đặt những hạn chế khi họ chứng minh được qua quá trình điều tra rằng sự gia tăng hàng nhập khẩu này chính là nguyên nhân gây ra những tổn hại nghiêm trọng đến hàng dệt may trong nước. Hơn nữa, những hạn chế này nếu được sử dụng, sẽ phải áp dụng bắt buộc cho hàng nhập khẩu từ tất cả các nguồn, không có sự phân biệt đối xử với hàng nhập khẩu từ bất kỳ nước nào ( trong khi MFA cho phép áp dụng hạn chế số lượng với hàng xuất khẩu từ một hoặc nhiều nước, tùy từng trường hợp).