PDA

Xem tài liệu đầy đủ : quản lí xăng dầu quân đội



NguyHaNa
20-04-2011, 16:13
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết.
Xăng dầu là một mặt hàng quan trọng có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Trong lĩnh vực Quốc phòng xăng dầu có ý nghĩa chiến lược quan trong cho hoạt động thường xuyên, khả năng sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi của quân đội.
Mặc dù đã có định mức quy định cho từng loại xăng dầu, nhưng lượng xăng dầu hao hụt ở các đơn vị trong các khâu vẫn rất lớn.
Hàng năm, trung đoàn 131 được bảo đảm một lượng xăng dầu tương đối lớn để bảo đảm cho hoạt động thường xuyên, công tác huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu.Trong những năm qua, việc thực hiện định mức hao hụt xăng dầu ở trung đoàn đã đạt được những kết quả nhất định, lượng xăng dầu hao hụt hàng năm luôn bảo đảm theo định mức quy định. Tuy nhiên, do cơ sở vật chất của nghành xăng dầu trung đoàn đã qua nhiều năm sử dụng, tổ chức biên chế chưa đầy đủ . nên việc thực hiện định mức hao hụt xăng dầu của nghành xăng dầu trung đoàn vẫn còn những điểm hạn chế nhất định. Trong những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về việc thực hiện định mức hao hụt xăng dầu ở các đơn vị, riêng việc thực hiện định mức hao hụt xăng dầu đặc thù như ở trung đoàn 131 thì chưa được đề cập và nghiên cứu cụ thể. Vì vậy, nghiên cứu đề tài: “ Quản lý thực hiện định mức hao hụt xăng dầu ở trung đoàn 131/Hải quân” là vấn đề cấp thiết, khách quan nhằm tìm ra các biện pháp quản lý thực hiện định mức hao hụt xăng dầu ở trung đoàn 131/Hải quân.
2. Mục đích.
Thứ nhất, thông qua viết chuyên đề tốt nghiệp để củng cố kiến thức về lý luận và thực tiễn, đồng thời học phương pháp nghiên cứu, rèn tác phong làm việc khoa học . phục vụ cho ôn thi tốt nghiệp và công tác ở đơn vị sau này.
Thứ hai,trên cơ sở lý luận và thực tiễn công tác xăng dầu ở đơn vị. đề xuất một số biện pháp quản lý thực hiện định mức hao hụt xăng dầu ở trung đoàn 131. Trên cơ sở đó vận dụng vào thực tiễn các đơn vị.


3. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Thứ nhất, nghiên cứu làm rõ các nội dung lý luận về hao hụt, định mức hao hụt xăng dầu.
Thứ hai, nghiên cứu thực tiễn công tác quản lý thực hiện định mức hao hụt xăng dầu ở trung đoàn 131trong những năm gần đây, tìm ra những điểm hạn chế, nguyên nhân hạn chế.
Thứ ba, đề xuất một số biện pháp quản lý thực hiện định mức hao hụt xăng dầu ở trung đoàn 131.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
Chuyên đề đi sâu nghiên cứu công tác quản lý thực hiện định mức hao hụt xăng dầu ở trung đoàn 131.
5. Phương pháp nghiên cứu.
Trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa Mác-lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và sử dụng tổng hợp các phương pháp: logic lịch sử, hệ thống, cấu trúc, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, thu thập điều tra các số liệu thực tế ở đơn vị và trong các tài liệu tham khảo .
6. Kết cấu của chuyên đề.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục chuyên đề được kết cấu thành 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn.
Chương 2: Một số biện pháp quản lý thực hiện định mức hao hụt xăng dầu ở trung đoàn 131/Hải quân.


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lý luận.
1.1.1. Định mức hao hụt xăng dầu.
a. Phương pháp tính hao hụt xăng dầu trong các khâu công tác.
* Định mức hao hụt khi nhập, xuất.
- Tính định mức hao hụt khi nhập:
Xác định hao hụt khi nhập là xác định lượng hao hụt trong công đoạn chuyển nhiên liệu, dầu mỡ từ các phương tiện chứa đựng trên phương tiện vận chuyển vào phương tiện chứa ở kho nhập, gồm lượng nhiên liệu bay hơi ở phương tiện giao và bay hơi ở phương tiện nhận, lượng tồn đọng do dính bám ở phương tiện giao, ở phương tiện chuyển (máy bơm, đường ống) và sự rò rỉ, trào *** trên đường nhiên liệu chuyển từ phương tiện giao đến phương tiện nhận mà không thể thu hồi được.
Đơn vị tính trong định mức là % số lượng nhập (với nhiên liệu tính thể tích ở 150C, với dầu mỡ tính là kilogam).
Tính toán hao hụt :
H = Đ.V
Trong đó: H: Lượng hao hụt nhập (tính là lít ở 150C với nhiên liệu ,kg với dầu nhờn và mỡ)
Đ: định mức cho trong bảng định mức .
V: Thể tích (quy về thể tích ở 150C) xác định tại phương tiện giao.
Nếu đơn vị nhận theo số đo trên phương tiện chứa của mình thì không được tính hao hụt nhập.
Tính định mức hao hụt ở khâu xuất:
định mức hao hụt ở khâu xuất bao gồm hao hụt do bay hơi ở phương tiện chứa ở kho xuất, phương tiện nhận cộng với rò rỉ trên tuyến ống công nghệ mà không thể thu hồi được.
Đơn vị tính là % số lượng xuất (số lượng ghi trên phiếu xuất)
Nếu đơn vị nhận hàng theo số đo ở bể xuất thì đơn vị xuất hàng không được tính phần hao hụt này.
Nếu đơn vị nhận hàng theo số đo tại phương tiện nhận thì đơn vị xuất hàng được tính toàn bộ hao hụt ở khâu xuất.
Các phương tiện đặc biệt nếu phải thu hồi nhiên liệu trong đường ống sau khi xuất thì được tính thêm phần hao hụt làm đầy và thu hồi của ống trên chiều dài thực tế của đoạn ống đó.
Trong trường hợp xuất lẻ: Lượng xuất ra không quy đổi về thể tích ở nhiệt độ 15oC mà chỉ xác nhận số lượng theo phiếu xuất ở nhiệt độ thực tế. Nhưng trong kỳ kiểm kê hàng tháng đợn vị phải tính số lượng đã xuất về thể tích ở 15oC (với nhiệt độ trung bình khi xuất là nhiệt độ đo tại miệng ống hút đặt trong bể chứa). Lượng nhiên liệu chênh lệch giữa lượng cấp theo phiếu xuất và quy đổi về 15oC không được tính bù cho hao hụt mà được coi là lượng tiết kiệm và phải lập báo cáo riêngđể báo cáo chỉ huy đơn vị ra quyết định xử lý.
* Định mức hao hụt trong vận chuyển đường bộ:
Định mức hao hụt trong vận chuyển chỉ tính hao hụt rueeng trong vận chuyển (số lượng thực tế xác định trên phương tiện vận chuyển sau khi nhận và số lượng thực tế xác định trên phương tiện ở thời điển giao hàng). Định mức không bao hàm hao hụt ở khâu nhập và khâu xuất.
Đơn vị tính hao hụt là % số lượng vận chuyển (đã quy đổi về thể tích chuẩn và xác định tại phương tiện vận chuyển nơi nhập hàng vào phương tiện vận chuyển) với chiều dài xây dựng định mức (100km) trên chiều dài vận chuyển thực tế.


Cách tính:
Hvc=G. Đ.L/100 (%)
Trong đó: Hvc: Lượng hao hụt cho phép trên chiều dài thực tế vận chuyển.
L: Chiều dài vận chuyển thực tế.
100: Chiều dài xây dựng định mức.
Đ: Giá trị định mức của loại vận chuyển tương ứng.
Trong quá trình vận chuyển vì nguyên nhân khách quan, thời gian vận chuyển kéo dài quá số ngày quy định của kế hoạch vận chuyển thì được tính thêm hao hụt bảo quản tồn chứa cho từng loại phương tiện trong số ngày kéo dài theo quy định.
Số lượng hao hụt = (Đmhh bảo quản tồn chứa).(Số ngày kéo dài qua quy định)
30
Vận chuyển bàng đường bộ tính theo hao hụt tồn chứa ngắn ngày trong bể trụ nằm đặt nổi ngoài trời.
Trong vận chuyển bằng đường bộ còn quy định tính tốt xấu của cung đường vận chuyển (cấp đường theo quy định của Bộ Giao thông vận tải), nếu đơn vị vận chuyển phải vận chuyển trong các loại đường tốt, xấu thì phải có thống kê xác định số km đường của từng cấp để tính định mức tương ứng, nếu không xác định được thì chỉ được phép tính theo định mức 1.
* Định mức hao hụt trong bảo quản tồn chứa:
- Định mức hao hụt trong bảo quản tồn chứa được chia ra theo từng loại hàng tồn chứa, tính chất tồn chứa, phương tiện tồn chứa và điều kiện bảo quản.
+ Theo tính chất tồn chứa có: tồn chứa ngắn ngày (trong tháng phương tiện đó có tham gia xuất, nhập), tồn chứa dài ngày (trong tháng phương tiện không tham gia nhập, xuất).
+ Theo phương tiện tồn chứa có: Bể trụ đứng, bể trụ nằm và vật chứa nhỏ(gồm phuy, bidong và thùng xe .).
+ Theo điều kện bảo quản cosbeer đặt nổi ngoài trời , bể đặt trong nhà có mái che, nửa nổi nửa chìm hoặc có tường bao, bể đặt ngầm và trong hang,thùng xe có các loại sẵn sàng chiến đấu và xe niêm cất.
Đơn vị tính hao hụt trong bảo quản tồn chứa là % số lượng bảo quản trung bình trong tháng (tồn đầu + tồn cuối)/2 không kể tồn đầu, tồn cuối là bao nhiêu.
- Cách tính hao hụt trong bảo quản tồn chứa:
+ Trong 1 tháng:
H’=Đ.(G1+G2)/2 (%)
Trong đó: H’: Lượng hao hụt trong 1 tháng (cho phép).
G1: Số lượng ở điều kiện tiêu chuẩn xác định đầu tháng.
G2: Số lượng ở điều kiện tiêu chuẩn xác định cuối tháng.
Đ : Định mức hao hụt của dạng tồn chứa, phương tiện tồn chứa và điều kiện tương ứng.
+ Giữa 2 thời điểm:
( % )

Trong đó: Hn: Lượng hao hụt trong 1 tháng (cho phép).
Ga: Số lượng chứa ở điều kiện tiêu chuẩn xác định ở thời điểm trước.
Gb: Số lượng chứa ở điều kiện tiêu chuẩn xác định ở thời điểm sau.
D : Định mức phụ thuộc dạng tồn chứa, phương tiện và điều kiện tương ứng.
n: Số ngày tính từ thời điểm xác định số lượng trước đến thời điểm xác định sau.
* Định mức hao hụt khi tráng phương tiện bằng nhiên liệu mới:
Định mức hao hụt khi tráng phương tiện bằng nhiên liệu mới chia ra 2 loại: tráng rửa phương tiện chứa đựng và tráng rửa đường ống. Trong mỗi loại lại chia ra số lượng nhiên liệu dùng để tráng rửa.
Lượng hao hụt ở đây chỉ tính cho lượng hao hụt của số nhiên liệu đem tráng bề mặt vật chứa để đảm bảo chất lượng cho nhiên liệu sẽ nạp vào phương tiện. Khi cần phải xúc rửa để làm sạch vật chứa hoặc đường ống phải áp dụng các phương pháp khác, nếu bắt buộc phải dùng dung môi để tẩy rửa phải lập báo cáo riêng mà không áp dụng định mức này.
Số lượng dùng để tráng phương tiện phải tùy theo yêu cầu của chất lượng nhiên liệu định nạp vào phương tiện và tùy thuộc loại hình của phương tiện.
Số lượng này do cơ quan quản lý kỹ thuật phương tiện và cơ quan quản lý chất lượng xăng dầu cùng thống nhất để quyết định sau khi đã báo cáo và được sự đồng ý của thủ trưởng cơ quan có thẩm quyền.
Hao hụt trong khâu tráng rửa bề mặt vật chứa, đường ống gồm: Lượng bay hơi khi cấp phát, tiếp nhận và bay hơi ở phương tiện cần tráng rửa, lượng dính bám tồn đọng ở phương tiện tráng không thu hồi lại hết.
Cách tính hao hụt :
H’=V.Đ
Trong đó: H’: Số lượng hao hụt
V: Số lượng nhiên liệu dùng để tráng rửa.
Đ: Định mức hao hụt tương ứng.
Đơn vị tính là % số lượng nhiên liệu đem ra tráng rửa
Lượng nhiên liệu sau khi tráng rửa phương tiện, nếu giảm chất lượng phải lập báo cáo và tồn chứa riêng.
* Định mức hao hụt mỡ:
Định mức hao hụt mỡ tính chung cho các loại sản phẩm mỡ(bôi trơn và bảo quản). Định mức chỉ tính cho khâu xuất, nhập phải phá bao bì, nếu xuất nguyên thùng, hòm, hộp hoặc điều chuyển không được tính phần hao hụt này.
Đơn vị tính là % trọng lượng xuất, nhập.
b. Định mức hao hụt xăng dầu trong các khâu công tác đối với xăng và điezel.
* Định mức hao hụt xăng dầu khi nhập, xuất:
- Định mức hao hụt xăng dầu khi nhập:

Bảng 1.1

TT Loại nhiên liệu Pt nhập vào bể Đmhh
1 Xăng các loại - Toa xitéc và ô tô xitéc
- Bể ( chuyển bể ) 0.35
0,20
2 Điezel các loại - Toa xitéc và ô tô xitéc
- Bể ( chuyển bể ) 0,15
0,08
Định mức trên tính cho quá trình nhập từ phương tiện vào bể chứa. Lượng hao hụt là hiệu số giữa số lượng giao tại phương tiện (tính về thể tích ở 150C) với số lượng nhận tại bể (tính về thể tích ở 150C).
- Định mức hao hụt xăng dầu khi xuất:
Lượng hao hụt là hiệu số giữa số lượng xuất tại bể và số lượng nhận tại phương tiện (đã quy đổi về thể tích ở 150C).


Bảng 1.2.
TT Loại nhiên liệu Xuất cho phương tiện Đmhh
1 Xăng các loại - Xuất lẻ
- Bể ( chuyển bể ) 0.60
0,20
2 Điezel các loại - Xuất lẻ
- Bể ( chuyển bể ) 0,28
0,05
* Định mức hao hụt xăng dầu trong công tác vận chuyển bằng đường bộ:
- Định mức hao hụt trong vận chuyển đường bộ bao gồm lượng hao hụt do bay hơi, rò rỉ cho phép trong quá trình vận chuyển (không bao gồm hao hụt khi nhập, xuất).
- Hao hụt tính riêng cho từng loại phương tiện chứa đựng khi vận chuyển và tính riêng cho từng cấp đường (tốt, xấu).
- Đơn vị tính: Tỷ lệ % số lượng vận chuyển (đã quy định về đơn vị chuẩn) trên đoạn đường 100km.
Bảng 1.3.

TT Tên nhiên liệu Mức 1 Mức 2
Ô tô xitéc Vật chứa nhỏ Ô tô xitéc Vật chứa nhỏ
1 Xăng các loại 0,08 0,1 0,16 0,2
2 Điêzel các loại 0,04 0,05 0,08 0,1
- Vật chứa nhỏ gồm phuy, bidong, hòm, hộp.
- Đường bộ cấp 1, 2, 3 được áp dụng định mức ở mức 1. Đường bộ cấp 4, 5 được áp dụng định mức ở cấp 2. Đường quân sự làm gấp được áp dụng định mức bằng 1.5 lần định mức ở mức 2.
* Định mức hao hụt xăng dầu trong bảo quản, tồn chứa:
- Định mức hao hụt xăng dầu khi bảo quản, tồn chứa trong bể:
Đơn vị tính: Tỷ lệ % số lượng tồn chứa bình quân trong 1 tháng.
Bảng 1.4.

TT Dạng bảo quản Loại nhiên liệu Điều kiện bảo quản, tồn chứa chôn ngầm
1 Tồn chứa dài ngày - Xăng các loại
- Điezel các loại 0,05
0,005
2 Tồn chứa ngắn ngày - Xăng các loại
- Điêzel các loại 0,1
0,01
- Định mức hao hụt xăng dầu khi bảo quản trong vật chứa nhỏ:
Đơn vị tính: Theo tỷ lệ % số lượng bảo quản trong 1 tháng.

Bảng 1.5

TT Loại nhiên liệu Đmhh trong thùng, phuy, hòm, hộp
1 Xăng các loại 0,3
2 Điêzel các loại 0,03
* Định mức hao hụt các loại mỡ:
Đơn vị tính:Tỷ lệ % khối lượng xuất, nhập
Bảng 1.6

Khâu công tác Đmhh
Xuất lẻ 0.3
Nhập khẩu o.2
Định mức chỉ áp dụng cho trường hợp khi xuất nhập phải phá bao bì đóng gói. Trường hợp xuất nhập không phải phá bao bì của nơi sản xuất và xác định khối lượng trực tiếp thì không được tính hao hụt.
1.1.2.Nguyên nhân hao hụt xăng dầu .
* Nguyên nhân hao hụt xăng dầu: Hao hụt xăng dầu ở kho diễn ra trong quá trình vận chuyển, tiếp nhận, cấp phát và bảo quản. Hao hụt về số lượng thường do tình trạng kĩ thuật của các loại máy móc thiết bị trong kho, trong các trạm bơm chuyển không phù hợp với yêu cầu kĩ thuật, sửa chữa các trang thiết bị trong kho không được tiến hành đúng thời hạn, sử dụng lưu trình công nghệ trong kho sai quy trình kỹ thuật gây ra trào *** xăng dầu.
Trong kho xăng dầu, ở trạm bơm và hệ thống công nghệ có tới hàng trăm mối nối và đoạn liên kết, đó chính là nơi trở thành nguồn gốc của hao hụt, tổn thất do rò chảy. Chúng ta thường ít chú ý tới loại hao hụt, tổn thất này và coi chúng không đáng kể, nhưng chính loại hao hụt, tổn thất này lại gây nên sự lãng phí lớn. Hao hụt về số lượng còn do quá trình nạp xăng dầu vào các vật chứa bị trào ***; trong quá trình tiếp nhận xăng dầu còn sót lại trong vật chứa, trong ống và phần cặn còn lại trong khi vét để cọ rửa bể; các sự cố ở bể, ở hệ thống công nghệ và ở các thiết bị trong kho.
Các hao hụt tổn thất về số lượng, làm giảm chất lượng do bay hơi gây ra khi tiếp nhận, bảo quản và cấp phát, trong đó hao hụt tổn thất trong bảo quản chiếm tỉ lệ chủ yếu và đây cũng là nguyên nhân gây nên hao hụt tổn thất xăng dầu lớn nhất ở kho.
Các hao hụt tổn thất về chất lượng xăng dầu ở kho và trong khi bơm chuyển theo đường ống xảy ra do lẫn lộn các sản phẩm với nhau, khi thiếu thận trọng và thực hiện không đúng các chế độ quy định trong tiếp nhận, tồn chứa và cấp phát, đồng thời còn do lượng nước và tạp chất cơ học gây ra.
Hao hụt tổn thất xăng dầu còn xảy ra trong quá trình cấp phát lẻ (cấp phát cho xe máy, can). Hao hụt tổn thất trong quá trình này là do để xăng dầu bị trào ***, do sơ ý của người cấp phát, do cấp phát quá số lượng, dụng cụ đo lường không chính xác, do vật chứa sử dụng lâu ngày bị biến dạng như: Phuy, biđông bị phồng, bị dãn nở .
Hao hụt tổn thất xăng dầu do bay hơi phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhưng chủ yếu là do bản chất của từng loại xăng dầu, điều kiện nhiệt độ môi trường và bề mặt thoáng của xăng dầu tiếp xúc với không khí. Ngoài ra một số yếu tố khác như: Điều kiện tồn chứa (khí hậu, thời tiết của khu vực kho), các đặc điểm thiết kế (kích thước, kiểu loại, khả năng chịu áp suất của bể chứa) và chế độ hoạt động của bể chứa (số lượng nhập xuất, luân chuyển trong năm, phằn trăm nhiên liệu chứa trong bể) cũng ảnh hưởng đến lượng hao hụt tổn thất xăng dầu do bay hơi trong quá trình bảo quản, tiếp nhận và cấp phát.
Hiện tượng bay hơi chỉ xảy ra khi khoảng trống chứa hơi trong bể chưa bão hoà. Nghĩa là áp suất dư của hơi trong khoảng trống nhỏ hơn áp suất hơi bão hoà ở trên bề mặt của xăng dầu.
Trong điều kiện tồn chứa tại kho, độ kín của bể chứa phụ thuộc vào kiểu loại phương tiện chứa đựng và tình trạng kỹ thuật của nó. Do tỷ trọng của hơi hỗn hợp xăng dầu lớn hơn tỷ trọng không khí nên trong một bể kín hiện tượng bay hơi vẫn xảy ra trên bề mặt xăng dầu chứa đựng trong bể. Các phần tử xăng dầu bay hơi sẽ toả ra khắp thể tích khoảng trống do kết quả của sự khuếch tán và dòng đối lưu. Sở dĩ dòng đối lưu xuất hiện trong khoảng trống chứa hơi là do sự tăng, giảm nhiệt độ của không khí bên ngoài môi trường trong một ngày đêm, tác động của ánh nắng mặt trời chiếu vào một phía gây nên. Các dòng đối lưu sinh ra trong khoảng trống bay hơi sẽ làm cho hỗn hợp không khí với hơi xăng dầu bị đảo lộn, đồng thời trực tiếp tạo nên lớp khuyếch tán ranh giới trên bề mặt chất lỏng. Trên phạm vi của lớp ranh giới đó không khí với hơi xăng dầu chỉ di chuyển khi bị khuếch tán mà thôi, còn bên ngoài giới hạn của lớp khuếch tán hiện tượng đối lưu sẽ làm cân bằng nồng độ hơi hỗn hợp trong toàn bộ khoảng trống.
Để bể chứa không bị áp suất hơi hỗn hợp của xăng dầu làm biến dạng, phải sử dụng van điều hoà áp lực (van hô hấp). Khi áp suất trong khoảng chứa hơi hỗn hợp lớn hơn áp suất khống chế của van, hơi hỗn hợp sẽ thoát ra ngoài khí quyển qua van điều hoà áp lực. Khi áp suất trong khoảng trống chứa hơi hỗn hợp giảm (có độ chân không nhất định) thì không khí bên ngoài khí quyển qua van điều hoà vào bể. Như vậy khoảng trống chứa hơi hỗn hợp trong bể luôn có sự lưu thông với khí quyển qua van áp lực, đồng thời các phần tử cất nhẹ của xăng dầu bị thoát ra ngoài khí quyển dẫn đến số lượng xăng dầu bị mất đi khá lớn.
Nếu xăng dầu bị lẫn nước, khi nhiệt độ môi trường xuống thấp quá sẽ làm kẹt các đĩa van áp lực, có thể gây ra nguy hiểm cho bể chứa. Trong trường hợp này có thể phải tháo bỏ các đĩa van áp lực và như vậy sẽ gây hao hụt tổn thất xăng dầu lớn.
Căn cứ vào những tính chất bên trong và điều kiện bên ngoài gây nên tổn thất bay hơi, người ta chia tổn thất bay hơi ở kho thành 2 loại: Tổn thất do “hô hấp nhỏ” (chủ yếu trong điều kiện tồn chứa tĩnh), tổn thất do “hô hấp lớn” (chủ yếu xảy ra trong điều kiện tiếp nhận, cấp phát, bơm chuyển, dồn dịch xăng dầu).
- Hao hụt xăng dầu do hô hấp nhỏ:
Xăng dầu khi chứa tĩnh tại trong bể, do nhiệt độ khí trời (hoặc áp suất bên ngoài) thay đổi dẫn đến tổn thất xăng dầu do bay hơi gọi là tổn thất do hô hấp nhỏ (tổn thất tĩnh).
Nguyên nhân bên ngoài của tổn thất do hô hấp nhỏ là sự thay đổi nhiệt độ và áp xuất không khí, ban ngày trời nắng nhiệt độ tăng lên làm cho nhiệt độ khoảng không trong bể và nhiệt độ lớp xăng dầu trên mặt cũng tăng lên, do đó hơi xăng dầu ở trong bể cũng giãn nở ra. Đồng thời từ mặt thoáng xăng dầu bốc lên rất nhiều phần tử cất nhẹ làm tăng nồng độ hơi xăng dầu trong bể, làm cho áp suất của khoảng không trong bể dần tăng lên. Khi áp suất tăng đến trị số khống chế của van hô hấp thì hỗn hợp không khí và hơi xăng dầu thoát ra ngoài.
Ngược lại, ban đêm nhiệt độ giảm xuống làm cho nhiệt độ khoảng không trong bể và mặt thoáng giảm đi, thể tích khí trong bể co lại, đồng thời một phần hơi xăng dầu ngưng tụ lại, giảm bớt nồng độ hơi trong bể, làm cho áp suất của khoảng không trong bể giảm tới khi nhỏ hơn áp suất khống chế của van hô hấp, van mở ra, không khí bổ sung vào bể cho đến khi cân bằng van đóng lại. Đó là quá trình của một lần mở ra và hút vào cuả tổn thất do hô hấp nhỏ, quá trình đó diễn ra thành một chu kỳ một ngày đêm.
Áp suất khí quyển tăng hoặc giảm gây nên sự chênh lệch áp suất giữa bên ngoài và bển trong bể làm cho bể sinh ra quá trình “thở ra”, nhưng áp suất khí quyển thay đổi nhỏ và tạm thời nên gây ra tổn thất không đáng kể.
Ta có thể dùng công thức thực nghiệm sau để tính lượng tổn thất cho một lần hô hấp nhỏ:
(1-7)
Trong đó:
C - Nồng độ trung bình của hơi xăng dầu (%)
V - Thể tích khoảng không trong bể (m3)
t - Độ chênh lệch nhiệt độ khoảng không trong bể 1 ngày đêm (°C)
- Hao hụt xăng dầu do hô hấp lớn:
Tổn thất xăng dầu xảy ra trong quá trình tiếp nhận và cấp phát xăng dầu gọi là tổn thất do hô hấp lớn.
Tổn thất xăng dầu do bay hơi là hiện tưọng phần không khí dư bão hoà hơi nhiên liệu thoát ra khỏi bể khi bơm rót nhiên liệu vào bể. Nếu bơm rót nhiên liệu vào bể kín thì hỗn hợp của không khí và hơi nhiên liệu sẽ bị nén lại tới áp suất đã điều chỉnh cho van hô hấp. Ngay sau khi áp suất trong bể đạt tới mức tải của van hô hấp thì nhiên liệu bắt đầu thoát ra khỏi bể.
Khi tiếp nhận, mức xăng dầu trong bể dần dần tăng lên, thể tích hỗn hợp khí dần dần giảm xuống, áp suất tăng dần.Nếu áp suất của hỗn hợp khí vượt quá áp suất khống chế của van hô hấp thì van hô hấp sẽ mở ra, hỗn hợp khí bay ra gây nên tổn thất. Nếu áp suất khống chế của van hô hấp càng cao thì hỗn hợp khí bắt đầu bay ra càng muộn, tổn thất càng ít.
Khi cấp phát, mức xăng dầu trong bể dần dần giảm đi, thể tích hỗn hợp khí dần dần tăng lên, áp suất giảm dần. Nếu áp suất của hỗn hợp khí nhỏ hơn độ chân không khống chế của van hô hấp thì van hô hấp sẽ mở ra. Không khí chui vào trong bể làm tăng khả năng bốc hơi của xăng dầu.
Những trường hợp nêu trên, tính chất của các tổn thất không hoàn toàn giống nhau, nhưng lại cùng nguyên nhân nên gọi là tổn thất do hô hấp lớn.
Tổn thất bay hơi do hô hấp lớn phụ thuộc vào mức chứa xăng dầu trong bể. Nếu gọi dung tích của bể là V (m3), hệ số tiếp nhận vào bể là K, khối lượng riêng của hơi xăng dầu là và nồng độ hơi xăng dầu trong hỗn hợp là C thì hao hụt do hô hấp lớn trong một lần tiếp nhận là G1, được tính theo công thức:
G1 = K.V C (kg) (1-8)
Trong đó:
G1 : khối lượng hơi nhiên liệu bay vào khí quyển (kg).
K : Hệ số tiếp nhận vào bể
V : Thể tích chất lỏng bơm rót vào bể (m3)
C : Nồng độ trung bình của hơi nhiên liệu trong bể, phần trăm thể tích
ρ: Khối lượng riêng hơi nhiên liệu ( kg/m3 )’
1.2 Cơ sở thực tiễn.
1.2.1.Đặc điểm tình hình đơn vị.
* Trung đoàn 131 đóng quân ở An Hồng-An Dương- Hải Phòng, thực hiện các nhiệm vụ phân tán trên diện rộng, trải dài từ Bắc vào Nam. Cùng một lúc kết hợp thực hiện nhiều nhiệm vụ trọng tâm như: huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện quân dự bị động viên và xây dựng các công trình quần đảo Trường sa, đảo Song tử, đảo Sinh tồn, xây dựng công trình SQH-02 tại Hoành Bồ-Quảng Ninh, làm hang động CTH-01 Thủy nguyên và tiếp tục thi công công trình TB-04 tại Quảng Trạch-Quảng Bình. Đồng thời xây dựng và tu sửa các hạng mục công trình tại K25 Hải Phòng, tổ chức thi công nhà điều dưỡng chất độc da cam tạ Hải Phòng . Chuẩn bị và làm tốt công tác bảo quản và bảo dưỡng xe máy, chuẩn bị đầy đủ phương tiện, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ Quân Chủng giao.
* Đặc điểm ngành xăng dầu:
- Ngành xăng dầu trung đoàn 131 trực thuộc Ban Hậu cần, có nhiệm vụ tổ chức quản lý, bảo đảm đầy đủ số lượng, chất lượng xăng dầu phục vụ cho công tác huấn luyện, hoạt động thường xuyên, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu của đơn vị
- Ngành xăng dầu trung đoàn 131 được biên chế 1 Trợ lý xăng dầu (do Phó Chủ nhiệm hậu cần kiêm nhiệm), 1 thủ kho kiêm thống kê. Nhìn chung cán bộ, nhân viên ngành xăng dầu được đào tạo cơ bản, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có ý thức trách nhiệm trong công tác. Được trang bị phương tiện tương đối đồng bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý thực hiện định mức hao hụt trong các khâu công tác. Tuy nhiên, do biên chế còn thiếu, chủ yếu là kiêm nhiệm trong công tác còn bị chi phối nhiều, nhân viên xăng dầu chưa qua đào tạo chính quy nên việc quản lý thực hiện định mức hao hụt còn gặp nhiều khó khăn.
- Trang bị kỹ thuật:
+ Phương tiện chứa đựng: Phụ lục 1
+ Hệ thống công nghệ: Sơ đồ mặt bằng kho xăng dầu.
+ Phương tiện tra nạp:Phụ lục 1
* Đặc điểm địa hình, khí hậu, thời tiết khu vực đóng quân:
- Địa hình nơi trung đoàn đóng quân là đồng bằng, mạng đường giao thông, kinh tế phát triển thuận lợi trong việc khai thác xăng dầu tại chỗ.
- Khí hậu thời tiết khu vực đống quân có 4 mùa rõ rệt, nhiệt độ vào mùa hề có những ngày lên tới 380C, chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm lớn, ảnh hưởng lớn đến công tác bảo quản, quản lý thực hiện định mức hao hụt xăng dầu.
1.2.2. Kết quả công tác quản lý thực hiện định mức hao hụt xăng dầu ở trung đoàn 131/Hải Quân.
Bảng 1.7
NĂM XĂNG ĐIÊZEL
HẠN MỨC HAO HỤT HẠN MỨC HAO HỤT
2007 52432 840 67276 191
2008 51236 776 47472 190
1.2.3. Một số ưu khuyết điểm trong công tác quản lý thực hiện định mức hao hụt xăng dầu ở trung đoàn 131/ Hải Quân
* Ưu điểm:
- Quá trình vận chuyển, tiếp nhận xăng dầu đã đi vào nề nếp bảp đảm hao hụt đúng theo quy định, không để xảy ra mất an toàn dù là nhỏ nhất, mẫu biểu sổ sách ghi chép đúng quy định.
- Trung đoàn đã đầu tư xây dựng và trang bị kho xăng dầu cơ bản đồng bộ khoa học.
- Hệ thống bể chứa, đường ống, lưu trình công nghệ bố trí khép kín, khoa học, dễ sử dụng, các bể chứa xăng dầu được chôn ngầm và xây kín, có nắp đậy bảo đảm hao hụt trong quá trình bảo quản theo quy định.
- Trong quá trình bảo quản, thường xuyên nắm chắc số lượng, chất lượng xăng dầu, có sổ sách thống kê riêng cho từng bể.
- Đặc biệt lượng xăng dầu dự trữ sẵn sàng chiến đấu và lượng thường xuyên được chứa cùng nhau, bảo đảm lượng xăng dầu dự trữ sẵn sàng chiến đấu luôn được luân lưu đổi hạt và hạn chế bay hơi hao hụt trong quá trình bảo quản.
- Có kế hoạch kiểm tra trang thiết bị, vật chứa định kỳ, phát hiện và báo cáo kịp thời khi có vấn đề xảy ra.
- Duy trì tốt các chế độ, quy định của ngành. Thực hiện nghiêm các nội dung thanh quyết toán, bảo đảm đúng thủ tục, thời gian và nguyên tắc.
* Nhược điểm:
- Do biên chế cán bộ còn thiếu chủ yếu là kiêm nhiệm, bị chi phối bởi các hoạt động của đơn vị nên công tác xăng dầu, việc thực hiện định mức hao hụt xăng dầu đôi lúc còn chưa được quan tâm đúng mức.
- Các bể chứa đã qua nhiều năm sử dụng, một số trang thiết bị kỹ thuật có dấu hiệu xuống cấp, đặc biệt là độ kín của các van hô hấp.
- Bảo quản trong điều kiện khí hậu nóng ẩm, nhiệt độ trung bình cao, sự chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm lớn nên lượng bay hơi hao hụt còn cao.
- Hệ thống nắp đậy các bể chứa xăng dầu bị hao mòn và hư hỏng nhiều.
- Hệ thống cột tra phục vụ cho cấp phát xăng dầu đã quá hạn sử dụng, lạc hậu nên quá trình cấp phát còn thiếu chính xác, ảnh hưởng đến lượng xăng dầu hao hụt.











KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Với đặc điểm nhiệm vụ của trung đoàn họat động thường xuyên, phức tạp, các yếu tố khí hậu, thủy văn trên khu vực đóng quân cộng với xăng dầu có những đặc điểm lý hóa khác nhau, các yếu tố chủ quan như phương thức quản lý, biên chế thiếu vắng, năng lực về trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ nhân viên xăng dầu đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện định mức hao hụt xăng dầu của ngành xăng dầu trung đoàn.
Những số liệu khảo sát thực tế cho chúng ta thấy mức độ hao hụt xăng dầu trong các khâu: tiếp nhận, cấp phát và bảo quản hiện nay ở kho xăng dầu trung đoàn tuy không vượt quá định mức cho phép, nhưng qua thực tế các yếu tố có liên quan ta vẫn có thể tìm được các biện pháp nâng cao chất lượng việc thực hiện định mức hao hụt xăng dầu ở ngành xăng dầu trung đoàn.
Do vậy, việc nghiên cứu tìm ra các biện pháp hạn quản lý việc thực hiện định mức hao hụt xăng dầu để góp phần nâng cao chất lượng công tác xăng dầu ở kho xăng dầu Trung đoàn 131 là vấn đề cấp thiết cần giải quyết hiện nay.









CHƯƠNG 2
MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ THỰC HIỆN ĐỊNH MỨC HAO HỤT XĂNG DẦU Ở TRUNG ĐOÀN CÔNG BINH 131/HẢI QUÂN
2.1. Hạn chế sự bay hơi hao hụt xăng dầu trong các khâu.
2.1.1. Bảo đảm vật chứa.
Vật chứa xăng dầu là các phương tiện chứa đựng, dữ trữ và bảo quản xăng dầu. Nó có vị trí hết sức quan trọng trong quá trình bảo quản, tiếp nhận và sử dụng xăng dầu. Đặc biệt trong quá trình bảo quản bảo đảm tính bay hơi cho xăng thì vật chứa đóng vai trò quyết định nhằm ngăn ngừa sự bay hơi của các thành phần nhẹ trong xăng từ đó giữ cho xăng không bị hao hụt về số lượng bảo đảm về chất lượng, góp phần thực hiện định mức hao hụt xăng dầu. Để bảo quản được xăng dầu, bảo đảm cho xăng không bị bay hơi mất các thành phần cất nhẹ thì các vật chứa phải đảm bảo một số yêu cầu sau:
Trước khi chứa đựng xăng dầu các vật chứa phải được kiểm tra dộ kín, độ sạch, sau đó mới tổ chức chứa đựng xăng dầu. Để đảm bảo độ kín cho các vật chứa tại vị trí kho, ngành xăng dầu phải bố trí các vật chứa phù hợp với địa hình kho, mặt đất để các vật chứa phải bằng phẳng, đầm chặt, tránh để các vật sắc nhọn gây thủng các vật chứa. Các phương tiện chứa đựng nhỏ như can, bi đông phải được để gọn tập trung vào một vị trí, được đánh dấu tránh nhầm lẫn, và trước khi chứa đựng phải kiểm tra độ kín bằng nước hoặc khí nén, phải đánh rửa sạch sẽ các phương tiện. Đối với các vật chứa lớn như bể, xi téc, để nổi trên mặt đất phải kiểm tra bề mặt, đánh rửa hết lớp gỉ bên trong và bên ngoài bể, tiến hành bọc bể theo đúng quy định, kiểm tra độ kín bằng khí nén và đo áp suất sau một thời gian.
2.1.2 Hạn chế bay hơi hao hụt tự nhiên trong quá trình bảo quản
Trong quá trình bảo quản do sự thay đổi nhiệt độ, áp suất không khí hàng ngày và thay đổi áp suất hơi nhiên liệu, trong khoảng trống của bể chứa nhiên liệu sẽ xảy ra hiện tượng tổn thất bay hơi do “hô hấp nhỏ”. Hiện tượng bay hơi do “hô hấp nhỏ” là hiện tượng hơi nhiên liệu thoát ra khỏi bể do nhiệt độ nhiên liệu trong bể tăng lên, hoặc do áp suất khí quyển giảm đi. Và hiện tượng không khí xâm nhập vào bể khi nhiên liệu giảm xuống hoặc áp suất khí quyển tăng lên. Lượng bay hơi hao hụt do “hô hấp nhỏ” phụ thuộc chủ yếu vào diện tích mặt thoáng trong bể và độ chênh lệch nhiệt độ khoảng trống trong bể. Vì vậy để hạn chế bay hơi hao hụt tự nhiên phải giảm diện tích mặt thoáng trong bể và giảm độ chênh lệch nhiệt độ khoảng không trong bể trong một ngày đêm (thực chất là giảm nhiệt độ bảo quản vào ban ngày - khi nhiệt độ cao hơn ban đêm).
* Giảm diện tích mặt thoáng:
Hiện nay các bể chứa xăng dầu ở Trung đoàn 131 là các bể chứa chịu áp suất thấp mà việc kết cấu lại bể hoặc thay bể chịu áp suất cao là không khả thi. Vì vậy trong thời gian tới đề nghị ngành xăng dầu trung đoàn 131 có thể áp dụng một số biện pháp để giảm diện tích mặt thoáng trong bể. Chuyên đề xin đề xuất các biện pháp sau:
-Sử dụng các bi cầu rỗng bằng chất dẻo:
Ưu điểm của phương pháp này là dụng được cho các loại bể có kết cấu khác nhau mà không cần vốn kết cấu lại bể. Mặt khác giá thành hạ, không phải bảo dưỡng, sửa chữa trong thời gian sử dụng.
Các bi cầu rỗng được làm bằng nhựa cácbônít, bên trong chứa đầy khí Nitơ. Trọng lượng thể tích của chúng là 59,2 kg/m3, đường kính của mỗi viên bi từ 2 đến 60 mm. Loại bi này không làm ảnh hưởng đến chất lượng xăng dầu và không tác dụng với xăng dầu nên thời gian sử dụng được lâu. Lớp bi này được phủ lên bề mặt xăng dầu dầy từ 13 đến 50mm.
Qua thực tế sử dụng người ta thấy sử dụng bi cầu rỗng với bể chứa xăng dầu thì hao hụt giảm được 35%. Thời gian sử dụng bi cầu rỗng phụ thuộc vào hệ số lưu chuyển của bể chứa.
Khi sử dụng các bi cầu rỗng, trong quá trình bơm nhiên liệu ra có thể các bi này cuốn theo dòng nhiên liệu khi bơm chuyển, vì vậy phải làm lưới chắn bảo vệ, mắt lưới phải nhỏ hơn đường kính bi bảo đảm không cho bi lọt qua, đồng thời phải chú ý điều chỉnh lưu lượng bơm chuyển cho phù hợp, hạn chế hiện tượng bi bị cuốn theo dòng nhiên liệu.
- Sử dụng các loại nhũ tương và màng hoạt tính bề mặt:
Để bảo vệ bề mặt xăng khỏi bị bay hơi ta phủ các hóa chất đặc biệt như nhũ tương hoặc lớp màng làm bằng các chất hoạt tính bề mặt trên bề mặt xăng dầu. Các chất này với số lượng không lớn lắm sẽ làm biến đổi các tính chất bề mặt và ranh giới phân chia các pha.
Để đạt được hiệu quả cao nên sử dụng các chất có chứa Flo, các hợp chất có chứa Flo có hệ số loang bề mặt lớn và tạo thành lớp màng bền vững trên bề mặt xăng dầu. Kết quả thí nghiệm cho thấy cứ thêm vào xăng khoảng 0.003% trọng lượng chất hoạt tính C7F15CONHC3H6N(CH3)3I – một loại hóa chất phức tạp của Flo thì giảm khả năng hao hụt do bay hơi được 75% so với không có chất phức của Flo.
- Chứa đầy, chứa gọn:
Trong thời gian vừa qua ở ngành xăng dầu trung đoàn 131 cơ bản thực hiện tốt việc chứa đầy, chứa gọn. Tuy nhiên, các bể chứa xăng dầu ở kho xăng dầu trung đoàn 131, việc xác định mức xăng chứa chủ yếu dựa vào kinh nghiệm. Vì vậy, trong thời gian tới đề nghị ngành xăng dầu trung đoàn 131 trước khi tiếp nhận xăng dầu vào bể phải tính toán được mức chứa tối ưu cho lượng xăng dầu chuẩn bị nhập vào bể.
Trước khi tiếp nhận phải nắm chắc số lượng, mã hiệu xăng dầu còn lại trong các bể và số lượng, mã hiệu xăng dầu sắp tiếp nhận. Trên cơ sở đó tính toán sao cho sau khi tiếp nhận xong bể được chứa đầy, chứa gọn, giảm khoảng trống trong bể, bởi mức xăng dầu chứa trong bể khác nhau thì tổn thất bay hơi cũng khác nhau [Bảng2-1].
Bảng 2-1. Tổn thất xăng phụ thuộc vào mức chứa
(Tham khảo)
Mức chứa (%) 90 80 60 40 20
Tổn thất (%V) 0,35 0,5 1,4 3,0 8,0
So sánh (%) 100 143 400 857 2285
Mức chứa xăng dầu trong bể phải căn cứ vào tính chất lý hóa của loại sản phẩm chứa, nhiệt độ sản phẩm lúc chứa và cao nhất trong thời gian bảo quản. Thể tích chứa lớn nhất xác định theo công thức:
Vchứa = V- α.V.(t2-t1)
Vchứa = V.[1-α.(t2-t1)] (m3)
Trong đó:
V là thể tích có thể chứa được của vật chứa, m3
t1 là nhiệt độ của xăng dầu lúc chứa, 0C
t2 là nhiệt độ của xăng dầu lúc cao nhất trong thời gian bảo quản, 0C
α là hệ số giãn nở của xăng dầu được xác định theo bảng 2-2 sau:

Bảng 2-2. Hệ số giãn nở của xăng dầu
Tỷ trọng của nhiên liệu α
Tỷ trọng của nhiên liệu α
0.700 - 0.710
0.710 - 0.720
0.720 - 0.730
0.730 - 0.740
0.740 - 0.750
0.750 - 0.760
0.760 - 0.770 0.00127
0.00123
0.00120
0.00116
0.00113
0.00110
0.00107 0.850 - 0.860
0.860 - 0.870
0.870 - 0.880
0.880 - 0.890
0.890 - 0.900
0.900 - 0.910
0.910 - 0.920 0.00079
0.00078
0.00077
0.00074
0.00072
0.00070
0.00068

* Giảm độ chênh lệch nhiệt độ nhiên liệu trong bể chứa giữa ban ngày và ban đêm:
Trong quá trình bảo quản do sự thay đổi nhiệt độ, áp suất không khí hàng ngày và thay đổi áp suất hơi nhiên liệu, trong khoảng trống của bể chứa nhiên liệu sẽ xảy ra hiện tượng tổn thất bay hơi do “hô hấp nhỏ”. Khi áp suất bên ngoài không đổi, áp suất trong bể chứa nằm trong khoảng khống chế của van hô hấp thì hao hụt do hô hấp nhỏ sẽ không xảy ra, bởi vậy muốn giảm chênh lệch nhiệt độ nhiên liệu trong bể giữa ban ngày và ban đêm cần phải giảm biên độ dao động nhiệt độ trong bể bằng cách làm mát cho bể.
Hiện nay, ngành xăng dầu trung đoàn 131 đã áp dụng một số biện pháp để giảm biên độ dao động nhiệt độ trong bể như chôn ngầm các bể chứa xăng dầu, xung quanh trồng cây bóng mát. Để giảm bay hơi hao hụt trong quá trình bảo quản còn có thể áp dụng một số biện pháp khác như tưới nước cho bể hoặc phun mù làm mát.
Tuy nhiên, các bể chứa xăng dầu của ngành xăng dầu trung đoàn 131 đều là các bể viên trụ nằm khi áp dụng phương pháp tưới nước làm mát hiệu quả sẽ không cao. Vì vậy để giảm chênh lệch nhiệt độ nhiên liệu trong bể chứa giữa ban ngày và ban đêm ngành xăng dầu trung đoàn 131 cần đầu tư hệ thống phun mù làm mát. Phun mù làm mát khác với tưới nước về nguyên lý, kết cấu và đạt hiệu quả cao hơn.
- Hàng ngày thời gian phun là 10 tiếng: từ 7 giờ đến 17 giờ hoặc từ 8 giờ đến 18 giờ.
- Vào mùa đông, sự chênh lệch nhiệt độ giữa ban ngày và ban đêm không lớn, nên trong một năm chỉ cần phun khoảng 8 đến 10 tháng trừ mùa đông.
- Trong quá trình sử dụng hệ thống phun mù làm mát ngành xăng dầu phải có biện pháp bảo đảm cho việc phun được liên tục bởi nếu phun bị ngắt đoạn thì không những không giảm được tổn thất mà còn làm tăng tổn thất, hao hụt.
- Khi sử dụng phương pháp phun mù làm mát các bể thường xuyên phải tiếp xúc trực tiếp với hơi nước, mà các bể chứa thường bằng thép, có khả năng tương tác với nước cao, dễ bị ăn mòn do đó có thể gây rò rỉ xăng dầu trong bảo quản.Vì vậy, để thực hiện được biện pháp này trước hết cần sơn chống gỉ, sơn nhũ và bôi mỡ chịu nước cho các bu lông để chống gỉ. Việc sơn nhũ phải được tiến hành 2 năm 1 lần. Khi sơn chống gỉ nên chọn loại sơn có màu sáng (trắng), bởi màu sơn có ảnh hưởng lớn đến lượng xăng dầu bay hơi hao hụt [Bảng 2-3].


Bảng 2-3. Mức độ ảnh hưởng của màu sơn đến lượng xăng dầu bay hơi hao hụt
(Tham khảo)
Diễn giải Đơn vị tính Màu sơn
Trắng Xanh Sẫm
Tổn thất 1 năm
So sánh %V
% 1.15
100 1.33
116 1.52
133

2.1.3. Hạn chế bay hơi hao hụt do “hô hấp lớn”
Trong thao tác mỗi lần bơm chuyển xăng dầu vào bể, bơm chuyển xăng dầu từ bể này sang bể khác không những tiêu hao công suất của bơm mà còn gây tổn thất xăng dầu do hô hấp lớn. Số lần hô hấp lớn càng nhiều, mức độ bay hơi hao hụt của xăng dầu càng cao do đó mà giảm
Tổn thất bay hơi hô hấp lớn trong tiếp nhận là hiện tượng phần không khí dư bão hòa hơi nhiên liệu thoát ra khỏi bể khi bơm nhiên liệu vào bể. Nếu bơm nhiên liêụ vào bể kín thì hỗn hợp của không khí và hơi nhiên liệu sẽ bị nén lại tới áp suất đã điều chỉnh cho van hô hấp. Ngay sau khi áp suất trong bể đạt tới mức tới hạn của van hô hấp thì nhiên liệu bắt đầu thoát ra khỏi bể. Khối lượng hơi nhiên liệu bay vào khí quyển từ bể chứa được xác định theo công thức:
G=ρn.Vn.C (kg)
Trong đó:
G: Khối lượng hơi nhiên liệu bay vào khí quyển, kg.
ρn: Khối lượng riêng hơi nhiên liệu, kg/m3.
Vn: Thể tích chất lỏng bơm rót vào bể, m3.
C: Nồng độ thể tích trung bình của hơi nhiên liệu trong bể.
Trong tính toán thông thường, khối lượng riêng hơi nhiên liệu có thể lấy giá trị trung bình là 3kg/m3.
Nồng độ trung bình của hơi nhiên liệu được xác định theo công thức:
C=pn/pt
Trong đó:
pn: Áp suất trung bình của hơi nhiên liệu trong hỗn hợp hơi xăng dầu, kg/cm2
pt: Áp suất tuyệt đối trong khoảng trống của bể khi bơm rót nhiên liệu, đối với bể thép đặt nổi lấy bằng 1kg/cm2
Khi tiếp nhận xăng dầu vào bể, nên tiếp nhận xăng dầu vào bể với lưu lượng lớn. Bởi vì, trước khi tiếp nhận xăng dầu hỗn hợp hơi xăng dầu trong bể chứa nhiều không khí. Khi bơm nhiên liệu vào áp suất trong bể tăng dần, đến khi vượt quá mức tới hạn của van hô hấp thì hỗn hợp hơi xăng dầu và không khí bắt đầu thoát ra ngoài. Nhưng áp suất khoảng trống trong bể (áp suất trên bề mặt xăng dầu) tăng thì hiện tượng bay hơi của xăng dầu trong bể càng giảm. Nếu thời gian bơm chuyển, tiếp nhận càng nhanh, lúc này hỗn hợp hơi xăng dầu trong bể có tỷ lệ giữa không khí với hơi xăng dầu đang lớn thì hơi xăng dầu thoát ra ngoài càng ít. Nhờ vậy, mà giảm được lượng xăng dầu bay hơi hao hụt do hô hấp lớn. Từ đó góp phần thực hiện định mức hao hụt xăng dầu của ngành xăng dầu trung đoàn 131.
2.2 Thực hiện tốt công tác thống kê theo dõi số lượng xăng dầu.
Thực hiện tốt công tác thống kê theo dõi số lượng xăng dầu là một biện pháp quan trọng xuyên suốt quá trình quản lý số lượng nói chung, định mức hao hụt xăng dầu nói riêng, từ đó có những biện pháp phát hiện kịp thời sự thay đổi về số lượng xăng dầu phục vụ tốt cho công tác bảo đảm xăng dầu luôn có đủ số lượng theo quy định.
Xăng dầu đưa vào bảo quản ở trung đoàn 131 với số lượng tương đối lớn. Vì vậy, việc quản lý theo dõi số lượng xăng dầu bảo quản phải được tiến hành thường xuyên liên tục ngay từ khâu tiếp nhận và trong suốt quá trình bảo quản ở kho. Để làm tốt vấn đề trên, chuyên đề đưa ra một số biện pháp sau:
- Xác định đúng số lượng chủng loại xăng dầu khi tiếp nhận đưa vào bảo quản, các số liệu này phải được ghi chép cụ thể, đầy đủ vào sổ theo dõi xăng dầu theo từng bể, vật chứa cụ thể.
- Thường xuyên tổ chức theo dõi, kiểm tra số lượng xăng dầu, có bảng biểu thống kê lượng hao hụt, tổn thất rõ ràng. Nếu thấy thất thoát hao hụt xăng dầu, phải có biện pháp kịp thời báo cáo chỉ huy đơn vị để có hướng giải quyết phù hợp.
- Đối với lượng dự trữ sẵn sàng chiến đấu phải có sổ sách theo dõi riêng, cụ thể, do lượng dự trữ sẵn sàng chiến đấu được bảo quản chung với lượng thường xuyên nên rất dễ bị xâm phạm. Như vậy mới bảo đảm lượng dự trữ sẵn sàng chiến đấu luôn đủ theo quy định.
- Chỉ huy đơn vị tăng cường kiểm tra sổ sách, mẫu biểu, thống kê về số lượng xăng dầu.
2.3 Biện pháp giáo dục – hành chính.
2.3.1 Biện pháp giáo dục.
Để công tác quản lý định mức hao hụt xăng được thực hiện tốt, thì việc giáo dục cán bộ, nhân viên chiến sỹ trong toàn đơn vị nói chung, ngành xăng dầu nói riêng là một nội dung biện pháp hết sức quan trọng. Vì kết quả thực hiện nhiệm vụ của ngành xăng dầu phụ thuộc vào trình độ chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức, tinh thần trách nhiệm của từng cá nhân và tập thể.
Trong nền kinh tế mở hiện nay, xăng dầu là mặt hàng chiến lược có tầm ảnh hưởng đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực trong đời sống kinh tế xã hội, dễ xảy ra tiêu cực. Chính vì vậy, cần tăng cường làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao nhận thức, tinh thần trách nhiệm trong công việc.
Việc giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức phải được tiến hành thường xuyên liên tục có tổ chức, có kế hoạch, có chiều sâu và hiệu quả. Cần đi sâu nắm vững tâm tư tình cảm của cán bộ nhân viên trong đơn vị, đặc điểm nhiệm vụ của ngành. Kết hợp giáo dục những nội dung mới đó là: Giáo dục phẩm chất đạo đức lối sống, giáo dục truyền thống của Quân đội, truyền thống ngành Hậu cần, ngành Xăng dầu, giáo dục tập thể, tinh thần tự lực tự cường khắc phục khó khăn . bên cạnh đó cần tích cực bồi dưỡng trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực tổ chức chỉ huy, nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác quản lý thực hiện định mức hao hụt xăng dầu.
Để những nội dung trên tạo nên sự chuyển biến trong nhận thức và hành động thì phải vận dụng nhiều hình thức giáo dục, tuỳ vào từng đối tượng cụ thể, quá trình giáo dục phải tiến hành tuần tự theo các bước:
- Lập kế hoạch giáo dục bồi dưỡng, tập huấn chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức, năng lực tổ chức quản lý cho cán bộ cũng như nhân viên ngành xăng dầu.
- Tiến hành bồi dưỡng giáo dục chính trị tư tưởng, chuyên môn nghiệp vụ, cần phải giáo dục truyền thống “ Cần – kiệm – liêm – chính “, phương pháp tác phong công tác, điều lệ, chế độ, ý chí vượt khó, khả năng sáng tạo . Đặc biệt phải lồng ghép các nội dung công tác với cuộc vận động “ Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.
- Quá trình giáo dục được tiến hành thông qua các hình thức sinh hoạt chuyên môn, tổ chức huấn luyện, hội thi hội thao, diễn tập của đơn vị, các hội nghị sơ, tổng kết.
- Phải đánh giá kết quả công tác bồi dưỡng hàng tháng, hàng quý, hàng năm. Đánh giá phải cụ thể đến từng cá nhân trên từng mặt công tác.
2.3.2 Biện pháp hành chính.
Biện pháp này nhằm bắt buộc mọi người có liên quan công tác xăng dầu tại trung đoàn chấp hành nghiêm chỉnh những quy định, nguyên tắc của ngành xăng dầu, cá điều lệnh, điều lệ, nghị định của cấp trên.
Biện pháp hành chính phải được thực hiện ở tất cả các khâu nhằm đưa công tác quản lý định mức hao hụt xăng dầu đi vào nề nếp, thống nhất là trách nhiệm của mỗi người. Trong mọi khâu, biện pháp hành chính đều đưa ra những yêu cầu nội dung khác nhau nhưng đều mang tính chất là những quy định bắt buộc mọi người chấp hành.
Tổ chức thưc hiện biện pháp hành chính phải thưc hiện tốt các nguyên tắc, quy định trong tiếp nhận, cấp phát và bảo quản, đồng thời phải theo nguyên tắc của quản lý ngành Hậu cần, nguyên tắc tính Đảng, nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc khoa học.
Tiếp nhận cấp phát và bảo quản xăng dầu phải bảo đảm chặt chẽ, chính xác về số lượng. Lấy chế độ điều lệnh, những chỉ thị thực hiện của ngành làm căn cứ, làm cơ sở để tổ chức thực hiện công tác tiếp nhận, cấp phát và bảo quản xăng dầu. Các số liệu trong sổ sách chứng từ phải đúng với thực lực trong kho và trên các phương tiện. Mọi vấn đề phát sinh trong tiếp nhận cấp phát và bảo quản phải phản ánh đầy đủ kịp thời chính xác vào sổ sách.
Cơ quan Xăng dầu thực hiện chức năng tham mưu cho người chỉ huy đơn vị thực hiện trách nhiệm tổ chức tiếp nhận, cấp phát và bảo quản xăng dầu của đơn vị. Mặt khác cơ quan xăng dầu với chức năng chuyên ngành phải nắm vững nguyên tắc, chế độ, nắm vững nhiệm vụ chính trị, kế hoạch công tác của đơn vị mình, nắm vững ý định của người chỉ huy, đánh giá đúng thực trạng của công tác xăng dầu, để tổ chức tiếp nhận, cấp phát bảo quản xăng dầu, cấp dưới phải chịu trách nhiệm với cấp trên về công tác chuyên môn. Tổ chức tiếp nhận, cấp phát và bảo quản xăng dầu phải thực hiện triệt để tiết kiệm trong mọi khâu.
Biện pháp hành chính là những quy định, những nội dung bắt buộc đối với những người làm công tác xăng dầu. Tuy nhiên, không được tuyệt đối hoá biện pháp hành chính.


















KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Có nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra tổn thất xăng dầu trong các khâu tiếp nhận, vận chuyển, cấp phát và bảo quản. Để hạn chế bay hơi hao hụt xăng dầu, góp phần thực hiện định mức hao hụt xăng dầu chuyên đề đã đưa ra một số biện pháp:
- Hạn chế sự bay hơi hao hụt xăng dầu trong các khâu
- Thực hiện tốt công tác thống kê theo dõi số lượng xăng dầu
- Biện pháp giáo dục hành chính
Để có thể giảm lượng xăng dầu bay hơi hao hụt, cần phải nghiên cứu sử dụng tổng hợp các biện pháp đã trình bày ở trên.













KẾT LUẬN CHUNG
Công tác quản lý thực hiện định mức hao hụt xăng dầu là một bộ phận của công tác tiết kiệm xăng dầu và công tác tiết kiệm vật chất hậu cần trong Quân đội, đặc biệt trong bối cảnh toàn quân đang thực hiện cuộc vận động “Ngành hậu cần làm theo lời Bác”. Công tác quản lý thực hiện định mức hao hụt xăng dầu luôn có ý nghĩa quan trọng trong công tác bảo đảm xăng dầu do đó cần phải được tiến hành chặt chẽ, có hệ thống, thường xuyên và toàn diện trong tất cả các khâu, các biện pháp, các đơn vị có sử dụng xăng dầu.
Chuyên đề đưa ra 3 biện pháp trên những cơ sở các luận cứ khoa học được phân tích đầy đủ, khách quan. Mỗi biện pháp đều có ý nghĩa và vai trò nhất định, giải quyết mục tiêu đề ra nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lý thực hiện định mức hao hụt xăng dầu ở kho xăng dầu Trung đoàn 131/QCHQ.
Quản lý thực hiện định mức hao hụt xăng dầu chỉ thực sự có hiệu quả cao khi thực hiện đồng bộ các biện pháp đã nêu trên. Các biện pháp có mối quan hệ hữu cơ, phụ thuộc và tác động lẫn nhau. Do vậy, thực hiện chúng phải có sự lãnh đạo thống nhất của các cấp ủy Đảng, sự quan tâm của người chỉ huy cao nhất cho đến các cơ quan, ngành, các đầu mối ngành xăng dầu và kho xăng dầu phải có kế hoạch thống nhất để phối hợp với nhau trong quá trình thực hiện, vận dụng.
Lực lượng nòng cốt thực hiện các biện pháp quản lý thực hiện định mức hao hụt xăng dầu là cán bộ, chiến sỹ của ngành nên nâng cao bồi dưỡng năng lực, trình độ là khâu then chốt, quyết định thành công trong thực tiễn, đặc biệt phải phát huy và đề cao tinh thần tự giác, ý thức tổ chức kỷ luật, cần, kiệm, liêm, chính.
Mỗi biện pháp đều có vai trò nhất định, tác động đến sự thành công hay thất bại của mục tiêu quản lý thực hiện định mức hao hụt xăng dầu. Việc quản lý thực hiện định mức hao hụt xăng dầu chỉ thực sự có hiệu quả khi biết kết hợp đồng bộ các biện pháp. Có thể vận dụng những biện pháp trên ở đơn vị khác nhưng cần chú ý đến đặc điểm khách quan và chủ quan có ảnh hưởng trực tiếp để điều chỉnh nội dung, mục tiêu, trọng tâm, trọng điểm và các bước thực hiện cho phù hợp.

NguyHaNa
22-04-2011, 17:45
ai xem cho ý kiến hộ cái.hịc