LỜI NÓI ĐẦU
Nước ta đang từng bước quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, nên nước ta thiếu cái " cốt vật chất" của một nền kinh tế phát triển. Thực trạng của nền kinh tế biểu hiện ở những mặt: cơ cấu hạ tầng vật chất và xã hội thấp kém, trình độ cơ sở vật chất và công nghệ trong các doanh nghiệp lạc hậu, kém khả năng cạnh tranh; sản xuất phân tán, kỹ thuật thủ công mang nặng tính bảo thủ, trì trệ; phân công lao động chưa sâu sắc, các mối liên hệ kinh tế kém phát triển, thị trường còn sơ khai; thu nhập của dân cư quá thấp, sức mua thấp, nhu cầu tăng chậm dẫn đến đình trệ sản xuất kinh doanh là khó tránh khỏi; thiếu một đội ngũ những người quản lý sản xuất kinh doanh có khả năng tham gia cạnh tranh trong và ngoài nước. Mặc dù sau hơn 15 năm đổi mới, nước ta đã đạt được những thành tựu đáng kể, đang trong quá trình chuyển biến từ nền kinh tế kém phát triển sang nền kinh tế hàng hoá vận hành theo cơ chế thị trường nhưng nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực là rất lớn.
Trước tình hình đó, cùng với xu thế phát triển của thời đại, Đảng và Nhà nước ta cần tiếp tục tiến hành và đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, trong đó phát triển kinh tế đóng vai trò then chốt, giữ vai trò chủ đạo. Đồng thời với đó là đổi mới về chính trị cũng mang tính cấp bách bởi giữa kinh tế và chính trị có mối quan hệ biện chứng với nhau, ràng buộc chặt chẽ với nhau, không thể tách rời. Chính vì vậy, tìm hiểu mối quan hệ giữa vật chất và ý thức sẽ cho phép chúng ta vận dụng nó vào mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị của đất nước, giúp cho công cuộc xây dựng nền kinh tế nước ta ngày càng giàu mạnh.
Sau một thời gian nghiên cứu và học tập, cùng với sự hướng dẫn nhiệt tình của thầy giáo tôi đã lựa chọn đề tài “Quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, vận dụng nó vào sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay”. Do thời gian và kiến thức bản thân còn nhiều hạn chế, bài viết sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Vậy kính mong sự góp ý của thầy cô giáo cùng toàn thể các bạn.
MỤC LỤC TÀI LIỆU
LỜI NÓI ĐẦU
PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
I. Vật chất
1. Định nghĩa vật chất
2. Các đặc tính của vật chất
II. Ý thức. Nguồn gốc, bản chất và kết cấu
1. Nguồn gốc của ý thức
2. Bản chất của ý thức
3. Kết cấu của ý thức. Vấn đề tự ý thức và vô thức
PHẦN II: MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
PHẦN III: VẬN DỤNG MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC TRONG VIỆC NGHIÊN CỨU CÔNG CUỘC XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
I. Vận dụng mối quan hệ vật chất và ý thức vào mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị
II. Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong việc xây dựng nền kinh tế mới ở nước ta hiện nay
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHẦN I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
I. Vật chất
1. Định nghĩa vật chất
Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không phụ thuộc vào cảm giác.
Thế giới vật chất tồn tại dưới dạng các sự vật, hiện tượng cụ thể rất phong phú. Các sự vật, hiện tượng đó rất khác nhau, song chúng đều có thuộc tính chung, đó là thuộc tính tồn tại khách quan ở ngoài và độc lập với ý thúc của con người.
Lê Nin gọi đây là " thuộc tính duy nhất " của vật chất mà chủ nghĩa duy vật gắn liền với sự thừa nhận thuộc tính đó.
Mọi đối tượng vật chất dù vi mô hay vĩ mô,dù dưới dạng hạt hay dạng trường, dù tồn tại trong tự nhiên hay trong xã hội cũng đều là những đối tượng khánh quan, độc lập với ý thức con người, có nghĩa chúng đều là các dạng cụ thể của vật chât mà thôi. Bởi vì " Khái niệm vật chất không có gì khác hơn : thực tại khách quan tồn tại độc lập đối với ý thức con người và được ý thức con người phản ánh ".
Khi định nghĩa " Vật chất là một phạm trù triết học" Lê Nin một mặt muốn chỉ rõ vật chất là một khái niệm rộng nhất, rộng vô hạn và một mặt muốn phân biệt vật chất với tư cách là một phạm trù triết học, là kết quả của sự khái quát và trừu tượng với những dạng vật chất cụ thể, với những " hạt nhỏ " cảm tính. Vật chất với tư cách là một phạm trù triết học không có những đặc tính cụ thể có thể cảm thụ được. Định nghĩa vật chất như vậy khắc phục được những quan điểm siêu hình của chủ nghĩa duy vật cũ đồng nhất vật chất với những hình thức biểu hiện cụ thể của nó. Lê Nin cho rằng vật chất vốn tự nó có, không do ai sinh ra, không thể tiêu diệt được, nó tồn tại bên ngoài, không lệ thuộc vào cảm giác và ý thức con người, vật chất là một thực tại khách quan. Khác với quan niệm " ý niệm tuyệt đối" của chủ nghĩa duy tâm khách quan, " thượng đế " của tôn giáo, "vật tự nó không thể nắm được " của thuyết không thể biết, vật chất không phải là lực lượng siêu tự nhiên tôn tại ở đâu đó. Trái lại, phạm trù vật chất là kết quả của sự khái quát các sự vật, hiện tượng có thật, hiện thực và do đó các đối tượng vật chất có thật, hiện thực có khả năng tác động vào các giác quan để gây cảm giác và nhờ đó mà ta có thể biết đưọc, hiểu được, nắm bắt được đối tượng này. Định nghĩa vật chất của Lê Nin đã khẳng định được câu trả lời của chủ nghĩa duy vật về hai mặt của vấn đề cơ bản của triết học, phân biệt về nguyên tắc chủ nghĩa duy tâm chủ quan và chủ nghĩa duy tam khách quan cũng như với thuyết không thể biết.
Ngoài ra, Lê Nin còn khẳng định vật chất được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác. Khẳng định như vậy, một mặt Lê Nin muốn nhấn mạnh tính thứ nhất của vật chất, vai trò của nó đối với ý thức và mặt khác, khẳng định phương pháp và khả năng nhận thức thế giới khách quan của con người. Chính vì vậy mà không chỉ phân biệt chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm, với thuyết không thể biết, ngoài ra còn phân biệt được chủ nghĩa duy vật với nhị nguyên luận.
Như vậy quan niệm duy vật biện chứng về ý thức đã được thể hiện tập trung ở định nghĩa vật chất của Lê Nin nó có ý nghĩa thế giới quan và phương pháp luận quan trọng để khắc phục những cuộc khủng hoảng trong sự phát triển của khoa học, để tiếp thu những phát minh mới của khoa học, để đấu tranh có kết quả chống lại mọi biểu hiện của chủ nghĩa duy tâm, thuyết không thể biết quan điểm siêu hình, chủ nghĩa chủ quan duy ý chí. Định nghĩa đó cổ vũ các nhà khoa học đi sâu nghiên cứu thế giới vật chất không ngừng làm phong phú thêm tri thức con người về thế giới. Định nghĩa đó mặc dù ra đời cách đây gần một trăm năm, nhưng cho đến nay nó vẫn giữ nguyên giá trị góp phần giúp chúng ta có thái độ khách quan và đòi hỏi chúng ta phải xuất phát từ thực tế khách quan trong suy nghĩ và hành động.
2. Các đặc tính của vật chất
· Vận động là phương thức tồn tại của vật chất và là thuộc tính cố hữu của vật chất.
Trong cuộc sống thường ngày, người ta thường hiểu sự vận động là sự di chuyển vị trí của sự vật trong không gian. Tuy nhiên sự phát triển của thưc tiễn và nhận thức khoa học cho thấy rằng nếu hiểu vận đông nếu theo nghĩa như vậy thì hạn hẹp và không đầy đủ. Theo nghĩa chung nhất, vận động là mọi sư biến đổi nói chung. Ăngghen viết :" Vận động hiểu theo nghĩa chung nhất là phương thức tốn tạicửa vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất thí bao gốm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ,kể từ sự thay đổi giản đơn đến tư duy".
Vận động có nhiếu hình thức trong đó có năm hình thừc vận động cơ bản:thứ nhất là vận động cơ học (sự di chuyển vị trí của các vật thể trong không gian);thứ hai là vận động vật lý( vận động của các phân tử, các hạt cơ bản, vận động điện tử, các quá trình nhiệt, điện .); thứ ba là vận động hoá học (vận động của các nguyên tử, các quá trình hoá hợp và phân giải các chất) ; thứ tư là vận dộng sinh học(trao đổi chất giữa cơ thể sống vầ môi trường); thứ năm là vận động xã hội ( sự biến đổi, thay thế của các hình thái kinh tế xã hội). Các hình thức vận động này đều có quan hệ với nhau. Một hình thức vận động nào đó được thực hiện là do sự tác động qua lại với những hình thức vận động khác, trong đó hình thức vận động cao bao giờ cũng bao hàm những hình thức vận động thấp hơn, nhưng cũng không thể coi hình thức vận động cao lầ tổng số đơn giản của các hình thức vận động thấp. Mỗi sự vật, hiện tượng cụ thể có thể gắn với nhiều hình thức vận động nhưng bao giờ cũng được đậc trưng bởi một hình thức vận động cơ bản.
Thế giới vật chất bao giờ cũng ở trong quá trình vận động không ngừng. Không thể có vật chất không vận động, tức là vật chất tồn tại bằng cách vận động và thông qua vận động mà biểu hiện sự tồn tại của mình, hay nói cách khác vận động là phườn thức tồn tại của vật chất. Ăngghen nhận định rằng các hình thức và các dạng khác nhau của vật chất chỉ có thể nhận thức được thông qua vận động mới có thể thấy được thuộc tính của vật thể. Trong thế giới vật chất từ các hạt cơ bản trong thế giới vĩ mô đến các hệ thống hành tinnh khổng lồ, từ vô cơ đến hữu cơ, đến xã hội loài người, tất cả đều luôn ở trạng thái vận động. Bất cứ một dạng vật chất nào cũng là một thể thống nhất có một kết cấu xác định gồm những nhân tố, những bộ phận, những xu hướng khác nhau, cùng tồn tại, ảnh hưởng và tác động lẫn nhau. Sự tác động qua lại gây ra biến đổi. Nguồn gốc của vận động là do những nguyên nhnân bêb trong, vận động của vật chất là tự thân vận động.
Vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất, không thể có vận động bên ngoài vật chất. Vận động không do ai sáng tạo ra và không thể riêu diệt được, do đó vận động được bảo toàn cả về số lượng lẫn chất lượng. Khoa học đã chứng minh rằng, nếu một hình thức vận động nào đó cuẩ sự vật nhất định mất đi thì tất yếu nó nảy sinh một hình thức vận động khác thay thế nó. Các hình thức vận động chuyển hoá lẫn nhau, còn vận động của vật chất nói chung thì vĩnh viễn tồn tại cùng với sự tồn tại của vật chất.
Trong khi coi vận động là thuộc tính bên trong vốn có của vật chất, chủ nghĩa duy vật biện chứng không phủ nhận sự đứng im mà coi đứng im như trường hợp riêng của vận động và đứng im là tương đối. Như vậy, đứng im là sự bảo toàn tính quy định của sự vật, bảo toàn cấu trúc của nó, là sự tái tạo tổ chức nhất định của các yếu tố của nó. Nói cách khác đứng im là một dạng của vận động, trong đó sự vật chưa thay đổi căn bản về chất, nó còn là nó,chứ chưa chuyển thành cái khác. Ăngghen khẳng định rằng khả năng đứng im tương đối của các vật thể, khả năng tạm thời là những điều kiện chủ yếu của sự phân hoá vật chất, và do đó cũng là điều kiện quan trọng của sự sống và của ý thức. Đứng im tương đối còn là điều kiện quan trọng cho sự nhận thức vật chất vận động. Không có đứng im tương đối thì không thể nhận thức bản thân các sự vật, hiện tượng. Đứng im và vận động tạo thành sự thống nhất biện chứng của các mặt đối lập, nhưng đứng im là tương đối còn vận động là tuyệt đối.
Powered by vBulletin® Version 4.1.10 Copyright © 2012 vBulletin Solutions, Inc. All rights reserved.