PDA

Xem tài liệu đầy đủ : Tiểu Luận Bàn về hệ thống lãi suất tín dụng ở Việt Nam hiện nay



Ghost
26-09-2010, 14:35
LỜI MỞ ĐẦU


Lãi suất là một trong những vấn đề hết sức phức tạp, nó vừa là công cụ hết sức quan trọng và nhạy cảm trong việc điều hành chính sách tiền tệ, vừa là giá cả sử dụng vốn của hoạt động tín dụng. Vì vậy, nó có tác động to lớn đối với việc tăng hay giảm khối lượng tiền lưu thông, thu hẹp hay mở rộng tín dụng tạo thuận lợi hay khó khăn cho hoạt động ngân hàng. Vai trò của lãi suất ngày càng trở nên quan trọng trong giai đoạn phát triển nền kinh tế thị trường, đặc biệt trong giai đoạn đất nước tiến hành công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá.
Đối với Việt Nam, lãi suất luôn luôn là một trong những mối quan tâm hàng đầu của các chuyên gia kinh tế, các nhà quản lý kinh tế và các tầng lớp dân cư. trên cơ sở những kiến thức đã học và những tài liệu thu thập được cũng như những hiểu biết thực tế cuả mình, em chọn nghiên cứu đè tài:
“Bàn về hệ thống lãi suất tín dụng ở Việt Nam hiện nay”

Ghost
26-09-2010, 14:36
MỤC LỤC TÀI LIỆU


LỜI MỞ ĐẦU
PHẦN NỘI DUNG
I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LÃI SUẤT
1. Nguồn gốc và bản chất của lợi tức
2. Khái niệm về lãi suất tín dụng
3. Nguyên tắc xác định lãi suất
3.1. Căn cứ vào quan hệ cung - cầu tiền vay
3.2. Căn cứ vào thời hạn cho vay
3.3. Căn cứ vào cơ chế lãi suất dương
4. Các loại lãi suất tín dụng
5. Các yếu tố ảnh hưởng đến lãi suất tín dụng
6. Ý nghĩa của lãi suất tín dụng trong nền kinh tế thị trường

II. THỰC TRẠNG LÃI SUẤT TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM - ƯU NHƯỢC ĐIỂM & TÁC DỤNG ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
1. Giai đoạn từ trước tháng 3 - 1989
2. Giai đoạn từ tháng 3 - 1989 đến tháng 10 - 1993
3. Giai đoạn từ 01 - 01 - 1993 đến 01 - 01 - 1996
4. Giai đoạn từ sau 01 - 01 - 1996 đến nay
4.1. Cơ chế quản lý lãi suất tín dụng thông qua mức khống chế 0,35%
4.2. Cơ chế điều hành lãi suất trần và không quy định mức chênh lệch lãi suất tín dụng
4.2.1. Cơ sở điều chỉnh
4.2.2. Mục đích điều chỉnh lãi suất
4.2.3. Tác động của điều chỉnh lãi suất tín dụng thời gian vừa qua

III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐIỀU HÀNH TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM
1. Định hướng điều hành lãi suất tín dụng ở Việt Nam
2. Một số ý kiến hoàn thiện chính sách lãi suất theo định hướng lãi suất cơ bản
KẾT LUẬN

Ghost
26-09-2010, 14:36
PHẦN NỘI DUNG


I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LÃI SUẤT
1. Nguồn gốc và bản chất của lợi tức
Những người có vốn tiền tệ nhàn rỗi nhưng chưa có nhu cầu tiêu dùng, đầu tư thì họ có thể cho người khác vay sử dụng số vốn này. tất nhiên họ vẫn là người sở hữu số vốn này. Những ngườiđi vay sau khi chấp nhận một cơ chế nào đó của người cho vay đặt ra, thì họ đợc vay vốn. người đi vay có toàn quyền sử dụng số vốn này trong thời gian đã thoả thuận. tuy nhiên họ không phải là người sở hữu số vốn trên. Như vậy, trong quan hệ tín dụng, quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn đã tách rời với nhau. Do đó để đảm bảo an toàn vốn của mình, người cho vay phải “ràng buộc” người đi vay bằng những cơ chế tín dụng hết sức nghiêm ngặt.
Người đi vay sử dụng vốn vào mục đích kinh doanh-sản suất, lợi nhuận được tạo ra trong quá trình nàytất yếu được phân chia theo một tỷ lệ thoả đáng giữa ngươì đi vay và người cho vay, tương ứng với nguồn vốn bỏ vào sản suất kinh doanh. Phần lợi nhuận dành cho người cho vay được gọi là lợi tức.
Như vậy về bản chất, lợi tức là một phần của lợi nhuận được tạo ra trong quá trình sản suất mà người đi vay phải nhượng lại cho người cho vay theo tỷ lệ vốn đã được sử dụng.
Về số lượng lợi tức được xem xét từ hai phía:
· Về phía người đi vay, lợi tức là số tiền ngoài phàn vốn, mà người đi vay phải trả cho người cho vay sau một thời gian sử dụng tiền vay
· Về phía người cho vay, lợi tức là khoản chênh lệch tăng thêm giữa số tiền thu về và số tiền phát ra ban đầu, mà người sở hữu vốn thu được sau một thời gian cho vay nhất định.
Nếu vốn được coi như là một loại hàng hoá, có thể mua bán trên thị trường vốn, thì lợi tức chính là giá cả được hình thành trong quá trình mua bán vốn trên thị trường. giá cả này cũng lên xuống theo quan hệ cung cầu của vốn, nhưng khác với giá cả của các loại hàng hoá thông thường: phản ánh và xoay xung quanh giá trị của chúng. Giá cả của vốn hoàn toàn không phản ánh được giá trị của vốn. Nó chỉ bằng một phần rất nhỏ so với giá trị của vốn. Chính vì thế giá cả của vốn được coi là một loại giá cả đậc biệt
Trên thực tế, nếu chỉ xem xétvề số lượng, thì lợi tức chưa phản ánh đượchiệu quả của số vốn cho vay phát ra. Vì vậy, trong kinh doanh tiền tệ, lơi tức luôn luôn được so sánh với số vốn cho vay để xác định khả năng sinh lời của từng loại vốn cho vay trên thị trường. chỉ tiêu đánh giá hiệu quả này chính là lãi suất tín dụng.