PDA

Xem tài liệu đầy đủ : Luận Văn DT085 - Tình hình đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian qua



Ghost
20-09-2010, 22:11
LỜI NÓI ĐẦU


Toàn cầu hóa là sự gia tăng các dòng chảy xuyên biên giới về con người, dịch vụ, vốn, thông tin và văn hóa.Toàn cầu hóa loại bỏ sự cô lập, tăng sự giàu có và tự do, giúp nâng cao tiềm năng và kiến thức của con người trên toàn thế giới. Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một trong những hoạt động kinh tế thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa diễn ra nhanh hơn, tới mọi nơi trên toàn thế giới. Như bất kỳ hoạt động đầu tư nào khác, đầu tư ra nước ngoài không chỉ trực tiếp làm tăng thu nhập cho mỗi doanh nghiệp, mà nó còn có ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế quốc dân.
Việt Nam đã đến ngưỡng cửa của hội nhập toàn diện, không thể chỉ dừng lại ở việc tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài. Đầu tư ra nước ngoài đã trở thành một xu thế tất yếu, do đó các doanh nghiệp Việt Nam cần phải chủ động, tranh thủ thời cơ để thâm nhập vào thị trường thế giới.
Dự án đầu tiên của các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài vào năm 1989. Ngày 14/4/1999, Nghị định số 22/NĐ-CP của Chính phủ về đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam được ban hành, cùng một số văn bản pháp luật liên quan đã tạo nên một khung pháp lý duy nhất cho hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam tính đến năm 2005. Nhưng hoạt động đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam còn nhiều những hạn chế, như thiếu chiến lược dài hạn, vốn đầu tư ít, quy mô còn nhỏ bé, các doanh nghiệp còn thiếu kinh nghiệm kinh doanh quốc tế. Thêm vào đó, cơ chế chính sách của Nhà nước chậm đổi mới, thiếu nhiều chính sách để tạo môi trường thuận lợi khuyến khích doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài.
Để nhìn nhận một cách cụ thể hơn về hoạt động đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam trong thời gian qua, đồng thời góp phần bổ sung cơ sở lý luận và thực tiễn để nâng cao hiệu quả đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam trước quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Em đã quyết định chọn đề tài:“Tình hình đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian qua”.
Đề tài nhằm hệ thống hóa lý luận về việc đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng và của các nước đang phát triển nói chung. Đồng thời xem xét và đánh giá các chính sách của Việt Nam và thực trạng hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian qua, từ đó đưa ra một số giải pháp thiết thực nhằm tăng cường, nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam.

Ghost
20-09-2010, 22:12
LỜI NÓI ĐẦU

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI
I. Một số vấn đề lý luận chung về đầu tư ra nước ngoài
1.Khái niệm đầu tư và đầu tư ra nước ngoài
2.Các hình thức đầu tư ra nước ngoài
II. Đầu tư ra nước ngoài tại các nước đang phát triển
1.Xu thế tất yếu của đầu tư nước ngoài
2.Đầu tư ra nước ngoài của các nước đang phát triển
III. Các nhân tố tác động đến hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam
1. Các nhân tố từ Việt Nam
2.Các nhân tố tại nơi đầu tư
IV. Kinh nghiệm đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc
1.Chính sách khuyến khích đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc
2.Tình hình đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc
3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Chương 2: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA
I. Thực trạng đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian qua
1.Khái quát tình hình đầu tư ra nước ngoài của các nước trên thế giới
2. Chính sách đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam
3. Tình hình đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam
II. Đánh giá thực trạng đầu tư ra nước ngoài tại Việt Nam
1. Kết quả đã đạt được trước năm 2006
2. Những hạn chế và nguyên nhân
3. Một số dự án đầu tư ra nước ngoài năm 2006

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
I. Xu thế quốc tế hóa nền kinh tế và yêu cầu tiếp tục tăng cường và nâng cao hiệu quả đầu tư ra nước ngoài
II. Giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường và nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam
1. Nhóm giải pháp của Chính phủ nhằm nâng cao khả năng đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam
2. Nhóm giải pháp cụ thể đối với các doanh nghiệp trong hoạt động đầu tư ra nước ngoài
KẾT LUẬN
70 TRANG

Ghost
20-09-2010, 22:13
Chương 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI

I. Một số vấn đề lý luận chung về đầu tư ra nước ngoài
1. Khái niệm đầu tư và đầu tư ra nước ngoài
Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới, hoạt động đầu tư không ngừng được mở rộng và chiếm vị trí ngày càng quan trọng. Đầu tư không còn bó hẹp trong phạm vi một quốc gia mà mở rộng trên phạm vi toàn thế giới. Sự ra đời và phát triển của đầu tư nước ngoài là kết quả tất yếu của quá trình quốc tế hóa và phân công lao động quốc tế. Chính vì lẽ đó, đầu tư có rất nhiều cách hiểu, sau đây chỉ là một số định nghĩa phổ biến:
Theo hiệp hội Luật quốc tế (1966) “Đầu tư nước ngoài là sự di chuyển vốn từ nước của người đầu tư sang nước của nước sử dụng nhằm xây dựng ở đó xí nghiệp kinh doanh hoặc dịch vụ”.
“Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư và luật pháp có liên quan”, theo Luật Đầu tư ra ngày 25 tháng 12 năm 2001.
Về bản chất, đầu tư là sự hy sinh các nguồn lực hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó. Nguồn lực đó có thể là tiền, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động và trí tuệ. Những kết quả thu về đó có thể là tài sản tài chính (tiền vốn), tài sản vật chất (nhà máy, đường xá, các của cải vật chất khác, ) và nguồn nhân lực có đủ điều kiện để làm việc với năng suất cao hơn trong nền sản xuất xã hội.
Trong hoạt động đầu tư, ngoài việc đầu tư trong nước, các nhà đầu tư cũng thường hay thực hiện việc đầu tư ra nước ngoài. Nhất là trong quan hệ quốc tế hoá kinh tế như hiện nay, đây là hình thức đem lại lợi nhuận khá cao cho các chủ đầu tư. Theo tôi, đầu tư ra nước ngoài là việc nhà đầu tư đưa vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác từ trong nước ra nước ngoài để tiến hành hoạt động đầu tư.
2. Các hình thức đầu tư ra nước ngoài
2.1. Đầu tư gián tiếp (FPI)
Đầu tư nước ngoài gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư.
· Đặc điểm của đầu tư nước ngoài gián tiếp
- Chủ đầu tư nước ngoài không kiểm soát các hoạt động kinh doanh.
- Vốn đầu tư là của các tổ chức quốc tế thường đi kèm với các điều kiện ưu đãi và gắn chặt với thái độ chính trị của các chính phủ và tổ chức quốc tế khác. Còn nếu vốn đầu tư là của tư nhân thì bị giới hạn bởi tỷ lệ góp vốn theo luật đầu tư của nước sở tại, thường từ 10% - 25% vốn pháp định.
- Chủ đầu tư nước ngoài kiếm lời qua lãi suất cho vay hay lợi tức cổ phần.
- Vốn đầu tư được phân tán trong vô số cổ đông và trái phiếu, nên chủ đầu tư có thể phân tán được rủi ro trong kinh doanh, hay độ rủi ro của đầu tư nước ngoài gián tiếp là thấp.
· FPI được thực hiện dưới các dạng sau:
Viện trợ quốc tế không hoàn lại: Các chính phủ, các tổ chức tài chính, kinh tế xã hội của các nước thông qua các chương trình viện trợ không hoàn lại để trơ giúp các nước chậm phát triển. Chẳng hạn như chương trình xoá đói giảm nghèo, chương trình nước sạch, chương trình phủ xanh đất trống đồi trọc, của Việt Nam hiện nay, chương trình lương thực của thế giới,
VIện trợ quốc tế có hoàn lại: Chủ đầu tư, cũng giống như ở trên song các nước chậm phát triển phải đi vay (có hoàn lại) nhưng với lãi suất thấp hơn.
Các doanh nghiệp tư nhân của nước này cho doanh nghiệp của nước khác vay (thông qua bán chịu hàng hoá với giá cao hơn giá theo quan hệ mậu dịch thông thường), hay là việc cá nhân người nước ngoài bỏ tiền mua trái phiếu của chính phủ, cổ phiếu của các công ty để hưởng tiền lãi.
2.2. Đầu tư trực tiếp (FDI)
Đây là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Về thực chất, FDI là loại hình đầu tư quốc tế mà chủ đầu tư bỏ vốn để xây dựng hoặc mua một phần, thậm chí toàn bộ cơ sở kinh doanh ở nước ngoài để làm chủ sở hữu toàn bộ hay một phần cơ sở đó. Trực tiếp quản lý điều hành hoặc tham gia quản lý điều hành hoạt động đối với đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư. Chịu trách nhiệm theo mức sở hữu về kết quả sản xuất kinh doanh của cơ sở đó.
· Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài
- Chủ đầu tư nước ngoài phải góp một số vốn tối thiểu vào vốn pháp định, tùy theo luật đầu tư nước ngoài của nước tiếp nhận vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài quy định. Quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn gắn liền với chủ đầu tư.
- Quyền quản lý xí nghiệp phụ thuộc vào mức độ góp vốn của mỗi bên. Với doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thì chủ đầu tư toàn quyền quản lý doanh nghiệp.
- Lợi nhuận của nhà đầu tư nước ngoài phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh và được phân chia theo tỷ lệ góp vốn.
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiện thông qua việc thành lập doanh nghiệp mới, mua lại toàn bộ hoặc một phần doanh nghiệp đang hoạt động hoặc sát nhập các doanh nghiệp với nhau.
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài không chỉ gắn liền với di chuyển vốn mà còn gắn với chuyển giao công nghệ, chuyển giao kiến thức và kinh nghiệm quản lý, tạo ra thị trường mới cho cả phía đầu tư và phía tiếp nhận đầu tư. Vốn FDI không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu của chủ đầu tư dưới hình thức vốn pháp định mà nó còn bao gồm cả vốn vay của doanh nghiệp để triển khai và mở rộng dự án cũng như vốn đầu tư trích từ lợi nhuận thu được trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp.
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện nay gắn liền với các hoạt động kinh doanh quốc tế của các công ty đa quốc gia.
- Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tạo ra một nguồn vốn dài hạn cho nước chủ nhà và ít chịu sự chi phối của chính phủ cũng như các quan hệ chính trị giữa chủ đầu tư với chính phủ nước tiếp nhận đầu tư.
· Trong thực tiễn, FDI được thực hiện dưới rất nhiều dạng, nhưng vì thời lượng có hạn nên em chỉ nêu ra một số dạng cơ bản, phổ biến ở nước ta:
- Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp được thành lập ở nước chủ nhà giữa các bên nước chủ nhà và nước ngoài trong đó các bên cùng góp vốn, cùng kinh doanh và cùng hưởng quyền lợi, nghĩa vụ theo tỷ lệ góp vốn.
- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, do người nước ngoài thành lập tại nước chủ nhà, tự quản lý và chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh.
- Hợp đồng hợp tác kinh doanh (hợp đồng BBC) là hình thức đầu tư được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân
- Hợp đồng Xây dựng – Kinh doanh - Chuyển giao (hợp đồng BOT) là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời hạn nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước Việt Nam.
- Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao – Kinh doanh (hợp đồng BTO) cung có đủ ba quá trình như hợp đồng trên nhưng có sự hoán đổi vị trí ở hai quá trình sau, thời gian kinh doanh đủ để nhà đầu tư thu hồi vốn và một phần lợi nhuận.
- Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao (hợp đồng BT), sau khi xây dựng Chính phủ sẽ tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện các dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hoặc thanh toán cho nhà đầu tư theo thoả thuận trong hợp đồng.
· Theo mục tiêu của chủ đầu tư, FDI được chia thành:
- Đầu tư theo chiều rộng: Hình thức đầu tư mà chủ đầu tư có lợi thế cạnh tranh trong việc sản xuất một sản phẩm nào đó (lợi thế về công nghệ, kỹ năng quản lý ) và chuyển sản phẩm này ra nước ngoài.
- Đầu tư theo chiều sâu: Chủ đầu tư thường chú ý đến việc khai thác nguồn tài nguyên vật liệu tự nhiên dồi dào và lao động rẻ ở nước ngoài để sản xuất các sản phẩm có thể nhập lại về nước mình hoặc xuất khẩu sang nước khác.
· Căn cứ vào chiến lược đầu tư, FDI có thể thực hiện theo hai hướng:
Đầu tư mới (Greenfield Investment) là việc các chủ đầu tư thực hiện đầu tư ở nước ngoài thông qua việc xây dựng các doanh nghiệp mới. Đây là kênh đầu tư truyền thống của FDI và cũng là kênh chủ yếu để các nhà đầu tư của các nước phát triển đầu tư vào các nước đang phát triển.
Mua lại và sát nhập (Mergers And Acquisitions) là hình thức khi các chủ đầu tư thông qua việc mua lại và sát nhập các doanh nghiệp hiện có ở nước ngoài. Kênh này chủ yếu ở các nước phát triển NICs (các nước công nghiệp mới).

shinichikuto
09-10-2010, 22:39
Muốn down tài liệu này mà không thấy chỗ nào để down cả :((