PDA

Xem tài liệu đầy đủ : Luận Văn Tình hình triển khai bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt tại Bảo Minh Hà Nội giai đoạn 2000 – 2005



Ghost
20-09-2010, 21:54
LỜI MỞ ĐẦU


Bình minh của thế kỷ mới đang đưa tới cho nền kinh tế đất nước ta những thử thách và cơ hội to lớn. Quá trình công nghiệp hoá - hiên đại hoá đất nước với sự ra đời của một loạt những nghành sản xuất mới, sự gia tăng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đang tạo đà cho sự phát triển của nền kinh tế sản xuất – kinh doanh nói chung và bảo hiểm nói riêng.Bên cạnh đó, yêu cầu của quá trình gia nhập tổ chức thương mại quốc tế WTO cũng đã đặt ra những cơ hội lớn cho sự phát triển của khu vực bảo hiểm phi nhân thọ ởViệt Nam., đặc biệt là bảo hiểm hoả hoạn.
Trong những năm gần đây, một loạt các vụ cháy lớn trên thế giới như vụ cháy nổ hai toà nhà thương mại Mỹ trong vụ khủng bố 11/9/2001 hay vụ cháy toà nhà Trung tâm thương mại Quốc tế ngày 29/10/2002 ở Thành phố Hồ Chí Minh đã làm cho người dân càng hiểu rõ hơn mức độ thiệt hại vô cùng to lớn của hoả hoạn cũng như tầm quan trọng của bảo hiểm hoả hoạn và ý thức quản lý rủi ro của các công ty bảo hiểm.
Qua thời gian tìm hiểu thực tế tại Bảo Minh Hà Nội, em thấy rằng bên cạnh các nghiệp vụ bảo hiểm khác, nghiệp vụ bảo hiểm hoả hoạn có một vị trí tương đối quan trọng trong hoạt động kinh doanh cảu Công ty với hiệu quả kinh doanh khá cao. Nếu thực hiện tốt hoạt động triển khai nghiệp vụ này thì không những góp phần nâng cao được doanh thu, lợi nhuận cho Công ty mà còn giúp Công ty có một vị trí vững chắc trên thị trường bảo hiểm. Vì trình độ hiểu biết có hạn nên em xin đi sâu vào tìm hiểu: “Tình hình triển khai bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt tại Bảo Minh Hà Nội giai đoạn 2000 – 2005” Bài viết gồm 3 chương:
Chương 1: Lý thuyết cơ bản về bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt.
Chương 2:Tình hình triển khai bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt tại Bảo Minh Hà Nội giai đoạn 2000 – 2005.
Chương 3:Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt tại Bảo Minh Hà Nội.

CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM HOẢ HOẠN VÀ CÁC RỦI RO ĐẶC BIỆT
I. TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN VÀ VAI TRÒ CỦA BẢO HIỂM HOẢ HOẠN VÀ CÁC RỦI RO ĐẶC BIỆT
1. Tính tất yếu khách quan của bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt
2. Vai trò của bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt
2.1. Đối với cá nhân và tổ chức tham gia bảo hiểm
2.2. Đối với Nhà nước và nền kinh tế
II. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM HOẢ HOẠN VÀ CÁC RỦI RO ĐẶC BIỆT
1. Một số khái niệm liên quan
1.1. Cháy
1.2. Hoả hoạn
1.3. Nổ
1.4. Đơn vị rủi ro
1.5. Tổn thất toàn bộ
2. Đối tượng bảo hiểm
3. Phạm vi bảo hiểm
3.1. Rủi ro được bảo hiểm
3.2. Rủi ro loại trừ
4. Giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm
4.1. Giá trị bảo hiểm
4.2. Số tiền bảo hiểm
5. Phí bảo hiểm và phương pháp xác định phí bảo hiểm
5.1. Phí bảo hiểm
5.2. Phương pháp xác định tỷ lệ phí bảo hiểm
5.2.1. Theo phân loại
5.2.2. Theo danh mục
III. CÁC HOẠT ĐỘNG TRIỂN KHAI BẢO HIỂM HOẢ HOẠN VÀ CÁC RỦI RO ĐẶC BIỆT
1. Công tác khai thác
2. Công tác đề phòng hạn chế tổn thất
3. Công tác giám định tổn thất
4. Công tác bồi thường tổn thất
IV. MỘT SỐ CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ TRIỂN KHAI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM HOẢ HOẠN VÀ CÁC RỦI RO ĐẶC BIỆT
1. Hiệu quả hoạt động khai thác
2. Hiệu quả hoạt động đề phòng hạn chế tổn thất
3. Hiệu quả hoạt động giám định bồi thường
4. Hiệu quả chung

CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI BẢO HIỂM HOẢ HOẠN VÀ CÁC RỦI RO ĐẶC BIỆT TẠI BẢO MINH HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2000 – 2005
I. GIỚI THIỆU VỀ TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ BẢO MINH HÀ NỘI
II. NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN CỦA BẢO MINH HÀ NỘI TRONG QUÁ TRÌNH TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM HOẢ HOẠN VÀ CÁC RỦI RO ĐẶC BIỆT
1. Thuận lợi
2. Khó khăn
III. TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM HOẢ HOẠN VÀ CÁC RỦI RO ĐẶC BIỆT TẠI BẢO MINH HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2000-2005
1. Công tác khai thác
1.1. Quy trình khai thác
1.2. Tình hình khai thác
2. Công tác đề phòng hạn chế tổn thất
3. Công tác giám định – bồi thường
3.1. Công tác giám định
3.2. Công tác bồi thường tổn thất
4. Kết quả và hiệu quả hoạt động kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt tại Bảo Minh Hà Nội
4.1. Kết quả hoạt động kinh doanh
4.2. Hiệu quả hoạt động kinh doanh

Chương III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM HOẢ HOẠN VÀ CÁC RỦI RO ĐẶC BIỆT TẠI BẢO MINH HÀ NỘI
I. MỘT SỐ GIẢI PHÁP
1. Phương hướng trong thời gian tới của công ty
2. Những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt
2.1. Đối với Nhà nước
2.1.1. Dần hoàn thiện hệ thống pháp lý
2.1.2. Có các chính sách đầu tư thích hợp
2.1.3. Đa dạng hoá sản phẩm
2.1.4. Nâng cao trình độ cán bộ quản lý
2.2. Đối với công ty
2.2.1. Công tác quản lý rủi ro của chính công ty
2.2.2. Phát huy mọi thế mạnh của công ty cổ phần
2.2.3. Tăng cường công tác đánh giá quản lý rủi ro
2.2.4. Đưa ra các chiến lược đa dạng hoá sản phẩm
2.2.5. Mở rộng hơn nữa mạng lưới đại lí, cộng tác viên
2.2.6. Tăng cường quan hệ với các tổ chức trong và ngoài nước để giữ khách hàng truyền thống và khai thác thêm khách hàng mới
2.2.7. Công tác tổ chức và đào tạo cán bộ nhân viên
KẾT LUẬN
83 trang

Ghost
20-09-2010, 21:56
CHƯƠNG I
LÝ THUYẾT CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM HOẢ HOẠN VÀ CÁC RỦI RO ĐẶC BIỆT

I. TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN VÀ VAI TRÒ CỦA BẢO HIỂM HOẢ HOẠN VÀ CÁC RỦI RO ĐẶC BIỆT
1. Tính tất yếu khách quan của bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt
Phát hiện ra lửa đã đánh dấu một bước phát triển vĩ đại trong quá trình chinh phục tự nhiên và tự hoàn thiện mình của con người, đưa con người từ giai đoạn mông muội dã man tới giai đoạn văn minh, tiến bộ.Cho tới nay, lửa vẫn đóng một vai trò quan trọng, không chỉ trong đời sống sinh hoạt mà còn trong tất cả các lĩnh vực sản xuất kinh doanh của nền kinh tế.Tuy nhiên, lửa cũng có mặt trái của nó, đó là hoả hoạn.Hoả hoạn được coi là một loại rủi ro mang tính chất thảm hoạ vì hậu quả mà có gây ra là vô cùng to lớn và có thể kéo dài trong nhiều năm.Các vụ hoả hoạn không chỉ xảy ra ở các nước chậm phát triển mà ngay cả các nước có nền kinh tế phát triển như Mỹ, Anh, Pháp nơi mà nền khoa học công nghệ đã đạt tới đỉnh cao của sự hiện đại và an toàn thì hoả hoạn vẫn xảy ra ngày một tăng về số lượng và mức độ nghiêm trọng.Theo ước tính mỗi năm trên Thế giới xảy ra khoảng 5 triệu vụ cháy với thiệt hại lên tới hàng trăm tỷ USD. Như ở Mỹ, các vụ cháy đã gây thiệt hại khoảng 1,5 tỷ USD mỗi năm, hay ở Anh là khoảng 1,8 tỷ USD.Ở Việt Nam, trong vòng 30 năm từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh phòng cháy chữa cháy (4/10/1961) thì đã xảy ra 566.036 vụ cháy (không kể cháy do chiến tranh) làm chết 2.574 người ,bị thương 4.479 người, gây thiệt hại ước tính 948 tỷ đồng.Trong những năm gần đây, khi nền kinh tế phát triển hơn thì số lượng các vụ cháy cũng ngày càng gia tăng, đặc biệt là các vụ cháy lớn. Năm 1992 – 1993 cả nước đã xảy ra 1710 vụ cháy, làm chết 213 người, bị thương 348 người và ước tính thiệt hại khoảng 114,746 tỷ đồng. Riêng trong năm 1996, đã xảy ra khoảng 961 vụ cháy, làm chết và bị thương 162 người , thiệt hại khoảng 43,8 tỷ đồng.Các vụ hoả hoạn điển hình trong những năm gần đây phải kể đến như :
* Vụ cháy chợ Đồng Xuân – Hà Nội ngày 4/7/1994 đã gây thiệt hại khoảng 140 tỷ đồng.
* Vụ cháy kinh hoàng trong lịch sử hoả hoạn Việt Nam ngày 26/6/1996 tại kho xăng dầu 131 Thuỷ Nguyên, Hải Phòng do sét gây thiệt hại lên tới 31 tỷ đồng.
* Vụ cháy nhà máy giầy Đồng Nai ngày 15/9/1998 gây thiệt hại khoảng 12,5 tỷ đồng .
* Năm 2000 vụ cháy tại công ty Phú Tài tổn thất ước tính 12,5 tỷ đồng, vụ cháy tại công ty may Hải Sơn thiệt hại 7,5 tỷ đồng, Muraya Việt Nam thiệt hại 6,25 tỷ đồng
* Vụ cháy lớn nhất trong năm 2001 là vụ cháy Vising Pack thiệt hại khoảng 1,2 – 1,4 triệu USD.
* Năm 2002 cũng là một năm kinh hoàng với một loạt các vụ cháy lớn như: vụ cháy rừng U Minh kéo dài hàng tháng không chỉ gây thiệt hại lớn về kinh tế mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường sống và cảnh quan; vụ cháy nhà máy toàn lực Viễn Đông với số tiền bồi thường lên tới 28 tỷ đồng; vụ cháy toà nhà trung tâm thương mại quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 29/10/2002 với thiệt hại ước tính khoảng 12,5 tỷ đồng.
* Theo thống kê năm 2003, tổng số tiền bồi thường cho nghiệp vụ bảo hiểm cháy là khoảng 6,5 triệu USD, cao hơn 15% so với năm 2002, với các vụ cháy: công ty Interfood là khoảng 4,6 triệu USD, công ty Tainnan với số tiền bồi thường khoảng 1,1 triệu USD
* Năm 2004 có một số vụ tổn thất điển hình như Pou Yuen (1,5 triệu USD), bút bi Thiên Long (7,2 tỷ đồng), giày Thượng Thăng (3,5 triệu USD)
Như vậy có thể thấy rằng thiệt hại do cháy gây ra không chỉ là đối với tài sản mà còn là tính mạng con người và cảnh quan môi trường sinh thái.Do đó nhất thiết cần phải có các biện pháp hữu hiệu để đối phó với hoả hoạn. Con người đã sử dụng rất nhiều các biện pháp khác nhau như các biện pháp phòng cháy chữa cháy, đào tạo nâng cao trình độ kiến thức và ý thức, thông tin tuyên truyền về phòng cháy chữa cháy.Tuy nhiên, phòng hoả và bảo hiểm đến nay vẫn được coi là hai cách giải quyết tốt nhất để hạn chế thiệt hại do cháy gây ra, giảm bớt tổn thất.
Ngày nay, khi khoa học công nghệ đang ngày càng phát triển thì các công cụ phòng cháy chữa cháy cũng được cải tiến, đổi mới và hoàn thiện hơn. Tuy nhiên, tốc độ phát triển của khoa học kỹ thuật trong sản xuất nhanh hơn rất nhiều so với kỹ thuật công nghệ về an toàn, mà trong khi đó ngày càng có nhiều các vụ hoả hoạn mà nguyên nhân lại chính là mặt trái của công nghệ tiên tiến. Bên cạnh đó, nguồn vốn cho các biện pháp an toàn thường rất nhỏ so với các nguồn vốn chi cho phát triển sản xuất.Không những thế, ngày nay con người sử dụng ngày càng nhiều nguyên nhiên liệu dễ cháy như gas, xăng dầu, các loại hoá chất nên nguy cơ cháy xảy ra là rất cao.Thêm vào đó, lượng chất thải vào bầu khí quyển ngày càng lớn đã gây nên hiện tượng hiệu ứng nhà kính, El Nino làm xuất hiện hạn hán, cháy rừng ở khắp nơi, điển hình là các vụ cháy rừng kéo dài hàng tháng ở Indonexia và Malaixia gây thiệt hại nặng nề về kinh tế, con người và môi trường.
Mặt khác, trong điều kiện kinh tế thị trường, các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân phải tự chủ về tài chính.Các hoạt động sản xuất ngày càng gia tăng, khối lượng hàng hoá giao dịch ngày càng lớn, công nghệ sản xuất ngày càng phong phú và đa dạng đòi hỏi họ phải đầu tư một số lượng tiền lớn. Nếu xảy ra hoả hoạn, họ sẽ phải đương đầu với rất nhiều khó khăn về tài chínhvà thậm chí có thể bị phá sản.Trong khi đó, nếu tham gia bảo hiểm hoả hoạn, ngay sau khi xảy ra hoả hoạn, họ đã có thể nhanh chóng ổn định đời sống sản xuất và tiếp tục kinh doanh nhờ vào khoản tiền bồi thường nhận được từ phía các nhà bảo hiểm.
Vì vậy, có thể nói hoả hoạn thực sự là thảm hoạ đối với loài người, và mặc dù con người đã có nhiều biện pháp để hạn chế thiệt hại do cháy gây ra nhưng hiệu quả của các biện pháp này đem lại là không khả quan lắm. Do vậy, bên cạnh việc tích cực phòng cháy chữa cháy thì bảo hiểm hoả hoạn chính là một giá đỡ cho mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp tham gia bảo hiểm.
Vào thời Trung đại rồi Phục hưng, ở Châu Âu vẫn chưa có hệ thống phòng cháy hữu hiệu hơn hệ thống sử dụng từ thời các Hoàng đế La Mã trị vì. Vào ban đêm, các đội tuần tra được giao nhiệm vụ đi dọc các phố để kiểm tra và phát hiện thấy nhà nào có nguy cơ cháy là họ báo ngay cho chủ nhà. Còn nếu có hoả hoạn xảy ra, người bị thiệt hại có thể được phường hội giúp đỡ với điều kiện họ là hội viên.Tuy nhiên, các khoản này chỉ có ý nghĩa tương trợ là chính và chưa được xem như một khoản bồi thường thực sự. Phường hội đầu tiên kiểu này do các nhà buôn thành phố Rowen (Pháp) thnàh lập năm 1374. Nhưng lúc đó, việc hạn chế, khắc phục hậu quả do cháy gây ra còn gặp nhiều trở ngại vì người dân vẫn cho rằng hoả hoạn cũng như nạn đói, chiến tranh và các dịch bệnh khác là những rủi ro không thể tránh khỏi.
Hiệp hội bảo hiểm hoả hoạn đầu tiên ra đời là ở Đức năm 1591 mang tên Feuer Casse.Một thời gian ngắn sau có xuất hiện một số các công ty khác nữa nhưng cũng không để lại dấu ấn gì lớn cho tới giữa thế kỷ 17. Đó là vào năm 1666, một vụ hoả hoạn khủng khiếp tại ngay thủ đô Luân Đôn diễn ra trong 7 ngày 8 đêm đã thiêu huỷ 13 200 ngôi nhà, 87 nhà thờ và vô số các tài sản giá trị khác. Đến lúc này, người dân Anh mới thực sự nhận thức được tầm quan trọng của việc thiết lập hệ thống phòng cháy chữa cháy và bồi thường cho người bị thiệt hại. Mức độ nghiêm trọng của thảm hoạ này đã đánh thức được ý thức cộng đồng chia sẻ rủi ro hảo hoạn của họ và từ đó đã dẫn đến sự ra đời của công ty bảo hiểm cháy đầu tiên ở Anh.
Ngay từ năm 1667, các nhà chức trách thành phố Luân Đôn đã mở văn phòng cháy đầu tiên với tiền thân là những lính cứu hoả Luân ĐônỉTong thời gian xây lại thành phố, Nicolas Bavbon - một nhà vật lý người Anh chuyển ngạch sang lĩnh vực xây dựng, đã bắt đầu nhận bảo hiểm hoả hoạn cho các ngôi nhà xây dựng lại.Công ty này đầu tiên được điều hành theo kiểu công ty tư nhân nhưng sau đó , năm 1680, đã được đổi thành công ty cổ phần lấy tên là The Fire Office.Năm 1684, một công ty bảo hiểm hoả hoạn khác là Friendly Society Fire Office ra đời hoạt động trên nguyên tắc tương hỗ và hệ thống phí cố định, người được bảo hiểm cũng phải chịu một phần thiệt hại xảy ra. Sau đó, các công ty bảo hiểm khác cũng ra đời ở Anh như: Hand in hand (1696), Sun Fire Office (1710), Union (1714), Lon Don (1714) và hầu hết vẫn còn hoạt động cho đến nay.
Tiếp đó, một loạt các công ty bảo hiểm hảo hoạn khác cũng được thành lập trên khắp thế giới.Như ở Đức, ngay từ năm 1677 đã thành lập quỹ bảo hiểm hoả hoạn đầu tiên của mình.Ở Pháp công ty bảo hiểm hoả hoạn đầu tiên do hai anh em Prien thành lập năm 1686 mang tên là Company I’Assurance Centre I’Incendia.Công ty bảo hiểm hoả hoạn đầu tiên được thành lập ở Mỹ là một công ty bảo hiểm tương hỗ do Benjamin Franklin và một số thành viên khác cùng sáng lập năm 1752 lấy tên là The Philadelphia Contributionship chuyên bảo hiểm cháy cho nhà cửa.
Ngày nay, xuất phát từ chính nhu cầu thực tế, nghiệp vụ bảo hiểm hoả hoạn hầu hết đã được tiến hành ở mọi nước trên Thế giới và đã trở thành một nghiệp vụ truyền thống với số phí hàng năm thu được là rất cao.Ví dụ như ở Nhật, số phí bảo hiểm hoả hoạn thu được hàng năm lên tới hơn 10 tỷ USD, chiếm 15,5% doanh thu của các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ; còn phí bảo hiểm hoả hoạn ở Mỹ hàng năm cũng chiếm khoảng gần 2% trong tổng số phí bảo hiểm tài sản Hiện nay, nghiệp vụ bảo hiểm hoả hoạn đang ngày càng phát triển và trở thành một nghiệp vụ không thể thiếu đối với bất cứ một công ty bảo hiểm phi nhân thọ nào.
Ở Việt Nam, ngay từ thời Pháp thuộc đã có một công ty bảo hiểm hoả hoạn tại miền Nam được thành lập.Mặc dù Bảo Việt được thành lập từ năm 1964 nhưng do trong cơ chế bao cấp, Nhà nước đứng ra bù đắp mọi thiệt hại cho các doanh nghiệp khi họ gặp rủi ro, nên bảo hiểm nói chung và bảo hiểm hảo hoạn nói riêng không có điều kiện phát triển.Trước yêu cầu đòi hỏi các doanh nghiệp phải tự chịu trách nhiệm về tài chính và thiệt hại kinh doanh khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, nghiệp vụ bảo hiểm hoả hoạn đã chính thưc được triển khai theo quyết định số 06/TCQĐ ngày 17/1/1989. Sau một thời gian thực hiện, để phù hợp với thực tế, Bộ Tài Chính đã ra quyết định số 142/TCQĐ ban hành quy tắc và biểu phí mới.Ngày 12/4/1993, Bộ Tài Chính lại có quyết định số 212/TCQĐ ban hành biểu phí bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt với mức phí tối đa để thay cho biểu phí bảo hiểm hoả hoạn theo quyết định số 142/TCQĐ.