quockhanhvhdg
27-03-2011, 20:35
Tập quán quản lý và khai thác rừng, đất rừng, nguồn nước của dân tộc Hà Nhì ở Mường Tè – Lai Châu
Tác giả: Lò Ngọc Biên – Bùi Quốc Khánh (đồng chủ biên).
Năm xuất bản: 2008.
Giới thiệu:
Tri thức dân gian hay còn gọi là tri thức bản địa là những hiểu biết của các thế hệ con người ở một vùng, một địa phương về những sự vật, hiện tượng hiện hữu xung quanh (bao gồm tự nhiên và xã hội) cùng những tri thức có được qua quá trình giao lưu, tiếp xúc với bên ngoài. Những tri thức ấy được chắt lọc, lưu truyền dưới nhiều hình thức qua nhiều thế hệ làm hình thành nên những tập quán quản lý và khai thác các tài nguyên thiên nhiên cùng các cung cách ứng xử đối với các tài nguyên đó nhằm thích ứng với môi trường tự nhiên và xã hội của con người.
Cuộc sống của người Hà Nhì luôn gắn bó với rừng, rừng không chỉ cung cấp cho họ nguồn thức ăn (thịt, rau, măng, nấm, củ, quả các loại) mà nó còn cho họ đất trồng trọt, nước sinh hoạt, tưới tiêu . Tất cả hợp lại tạo thành một môi trường sống và từ lâu đã hình thành một môi trường văn hoá của người Hà Nhì - văn hoá rừng, mà nói rộng ra là văn hoá ứng xử với các nguồn tài nguyên thiên nhiên: rừng, đất đai và nguồn nước. Từ các hoạt động mưu sinh như khai thác những nguồn lợi tự nhiên (săn bắt, hái lượm), các hoạt động sản xuất (trồng trọt, chăn nuôi), một số sản phẩm dùng trong trao đổi, mua bán cho đến các hoạt động văn hoá (tín ngưỡng, lễ hội, văn học - nghệ thuật), tổ chức và quan hệ xã hội, văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần của người Hà Nhì đều không tách khỏi mối quan hệ với rừng, đất đai và nguồn nước.
Đối với con người rừng, đất rừng và nguồn nước có hai chức năng chủ yếu. Thứ nhất, đó là nơi cung cấp tài nguyên, lương thực, thực phẩm và điều hoà môi trường sống. Thứ hai là chức năng thông tin (thông tin môi trường, thông tin xã hội, thông tin văn hoá .). Trong đó, những thông tin về văn hoá đóng vai trò quan trọng. Vì vậy, rừng không chỉ là đối tượng nghiên cứu của các ngành môi trường, lâm nghiệp, địa chất, khoáng sản, sử học (lịch sử tự nhiên) . mà còn là đối tượng nghiên cứu của văn hoá học, dân tộc học.
Nghiên cứu Tập quán quản lý và khai thác các tài nguyên rừng, đất đai, nguồn nước của dân tộc Hà Nhì ở Mường Tè, chúng tôi có đề cập đến chức năng thứ nhất của các tài nguyên rừng, đất đai, nguồn nước - chức năng nuôi sống và điều hoà môi trường sống cho con người. Ở đây không chỉ chú ý tới các loại tài nguyên rừng (cây cối, chim muông .) hay quy mô, độ che phủ . mà thông qua việc tìm hiểu các tập quán và cách ứng xử của người Hà Nhì với các nguồn tài nguyên kể trên để tìm hiểu tri thức và kinh nghiệm dân gian của người Hà Nhì. Nguồn tri thức này sẽ được phản ánh cả trong tập quán pháp, trong thơ ca, truyện kể của người Hà Nhì, thấm đẫm trong các ứng xử của người Hà Nhì với rừng.
Nhưng vấn đề quan trọng hơn, cái đích của công trình là tìm hiểu chức năng thứ hai của rừng - chức năng thông tin; bởi thông qua việc sử dụng các tài nguyên rừng, đất rừng và nguồn nước người ta nhận biết được cộng đồng dân cư ở đó đã có thái độ như thế nào đối với rừng. Những cánh rừng còn phản ánh dấu ấn tộc người, dấu ấn của lịch sử, dấu ấn của một nền kinh tế, của thiết chế xã hội .
Tìm hiểu tập quán quản lý và khai thác các tài nguyên rừng, đất đai, nguồn nước của dân tộc Hà Nhì ở Mường Tè cũng như nội dung thông tin của nó, chúng tôi muốn đề cập đến các giá trị văn hoá, lịch sử, xã hội của người Hà Nhì. Từ đó, góp phần tìm hiểu bản sắc văn hoá tộc người này.
Đối tượng nghiên cứu của công trình là hai nhóm Hà Nhì Lạ Mí và Hà Nhì Cồ Chồ ở huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu - một trong những địa phương có mật độ người Hà Nhì cư trú đông đảo và đậm đặc nhất trong toàn quốc, đồng thời cũng có sự bảo lưu văn hoá truyền thống tốt hơn cả. Trong đó, chúng tôi tập trung vào địa bàn cư trú chủ yếu của người Hà Nhì ở các xã vùng cao, vùng sâu Mù Cả, Ka Lăng, Thu Lũm; đồng thời có so sánh, đối chiếu với các bản Hà Nhì ở các xã vùng thấp, vùng gần thị trấn, gần đường như Kan Hồ, Hua Bum, Bum Nưa, Bum Tở.
Nguồn tài liệu nghiên cứu chủ yếu là tài liệu điền dã, đồng thời có tham khảo một số công trình của một số tác giả trong và ngoài nước đã công bố, và một số bài báo đăng trên các tạp chí Dân tộc học, tạp chí Văn hoá dân gian (TCVHDG) trong những năm qua có liên quan đến các vấn đề nghiên cứu trong công trình này.
Để tìm hiểu các giá trị văn hoá tộc người và các tập quán quản lý và khai thác các tài nguyên thiên nhiên tại các địa bàn cơ sở nên phương pháp đầu tiên được áp dụng ở đây là phương pháp điền dã khảo sát thực địa, lấy kết quả của quá trình điền dã làm tài liệu cơ bản trong quá trình nghiên cứu. Tập quán quản lý và khai thác các tài nguyên thiên là một tập hợp các yếu tố văn hoá, kinh tế, xã hội trong một tổng thể không thể tách rời, phản ánh không chỉ mối quan hệ giữa con người với con người mà còn là mối quan hệ hai chiều giữa con người với thiên nhiên. Do đó, nghiên cứu tri thức dân gian về rừng của người Hà Nhì không thể chỉ xem xét từ góc độ tự nhiên mà phải áp dụng phương pháp hệ thống, xác định đó là một hệ thống gồm nhiều yếu tố khác nhau liên quan đến nếp sống tộc người, tôn giáo tín ngưỡng, phong tục, biểu tượng, các cung cách ứng xử khác nhau . Đồng thời, để nghiên cứu hiện tượng văn hoá này cũng cần áp dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành và đa ngành, phương pháp chuyên gia. Mặt khác, nghiên cứu tri thức dân gian về rừng của người Hà Nhì cũng cần nghiên cứu sự giống và khác nhau với các nhóm Hà Nhì khác (Hà Nhì Cồ Chồ, Hà Nhì Đen), giữa địa phương này với địa phương khác, các tập tục cổ truyền cũng như sự biến đổi . Bởi vậy, cần áp dụng phương pháp so sánh đồng đại và lịch đại.
Trong lịch sử, người Hà Nhì đã được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ và cấp độ khác nhau. Riêng ở lĩnh vực sử học và địa lý, thời cổ trung đại ở Trung Quốc có các tác phẩm Sử ký Tư Mã Thiên, Hán Thư, Sử ký Tây nam Di Việt truyện, Hoa Dương Quốc chí, Man thư, Đường thư, Vạn lịch Vân Nam thống chí được viết vào các đời Tần, Hán, Đường. Các tác phẩm này ít nhiều đều có đề cập đến người Hà Nhì với tư cách là một trong các chủ nhân của các quốc gia cổ đại, những cuộc chiến tranh thị tộc, bộ lạc ở phía nam Trung Nguyên hay nguyên nhân và các bước đường di cư của tộc người này, chứ chưa đi sâu vào tìm hiểu những tri thức dân gian hay những tập tục của người Hà Nhì với rừng.
Đề cập đến người Hà Nhì dưới góc độ lịch sử và dân tộc học đã được một số nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm từ đầu thập niên 60 của thế kỷ trước. Mở đầu là tác phẩm Chế độ nô lệ và nhà nước Nam Chiếu của học giả Trung Quốc Ma Trường Thọ (ấn hành năm 1960), tác phẩm đi sâu vào nghiên cứu lịch sử và chế độ xã hội cổ truyền của một số dân tộc ít người ở vùng Hoa Nam, trong đó có người Hà Nhì với tư cách là một trong những chủ nhân của vương quốc Nam Chiếu cổ xưa. Năm 1985, Viện Dân tộc học thuộc Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam (nay là Viện Khoa học xã hội Việt Nam) đã cho ra mắt công trình Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc). Trong đó, người Hà Nhì được đề cập đến với tư cách là một dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến. Năm 1985, tác giả Nguyễn Văn Huy công bố tác phẩm Nếp sống văn hoá nhóm ngôn ngữ Hà Nhì - Lô Lô. Cuốn sách đã phần nào nêu lên được những phong tục và một số nét văn hoá chủ yếu của người Hà Nhì ở Việt Nam. Năm 2004, tác giả Chu Thuỳ Liên đã công bố công trình Tìm hiểu văn hoá dân tộc Hà Nhì ở Việt Nam. Đây là công trình dân tộc học đầu tiên đề cập khá đầy đủ và chi tiết về văn hoá người Hà Nhì, trong đó có nhiều mục đề cập đến những tác động của rừng đối với người Hà Nhì và một số nghi lễ tín ngưỡng của người Hà Nhì với rừng.
Dưới góc độ văn hoá dân gian, năm 1985, sinh viên Lê Đình Lai đã thực hiện Luận văn tốt nghiệp với đề tài Sơ bộ tìm hiểu và giới thiệu hai truyện thơ dài "Xa Nhà Ca" và "Phuỳ cá ná cá" của dân tộc Hà Nhì.
Dưới góc độ quản lý văn hoá, cuốn sách Văn hoá Hà Nhì trên con đường phát triển của Nhà xuất bản Bắc Kinh ấn hành (1980), đã bước đầu phản ánh một cách có hệ thống những yếu tố văn hoá truyền thống của người Hà Nhì và những biến đổi trong thời kỳ mới.
Trước sự khủng hoảng ngày càng trầm trọng của môi trường, ngày càng có nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm đến mối quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên. Trong đó nghiên cứu chuyên về môi trường dưới góc độ dân tộc học và văn hoá học đã được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm và tiếp cận với nhiều hướng khác nhau.
Nhiều công trình đã nhìn nhận tôn giáo, nghi thức và các biểu tượng như là một thực thể điều hoà mối quan hệ giữa con người và tự nhiên. Ở nước ngoài, tiêu biểu có các công trình như: Forest, Indigenous Peoples and Biodiversity (Rừng, những con người bản địa và sự đa dạng sinh thái) của Barsh, Russel Lawrence, in trong Indigenous People and Forest. Monteal: January. Body of Power, Spirit of Resistance: the Culture and History of a South African People (Hình thể của sức mạnh, linh hồn của sự đối kháng: Văn hoá và lịch sử của người Nam Phi) của Camaroff, Jean (1995). Cosmology as Ecological Analysis: A view from the Rain Forest (Vũ trụ quan như là sự phân tích sinh thái học: Một nghiên cứu từ vùng rừng nhiệt đới) của G.Reichel - Dolmatoff (1975). Huxlec memorial lecture. Local Model of the Environment: Anthropological Perspectives (Mô hình bản địa về môi trường: những cách tiếp cận nhân học) của Kaj Arhem. Tài liệu trình bày trong hội thảo Các cộng đồng tộc người trong sự thay đổi của môi trường sinh thái. Chiang Mai, 1997. A Comparative Study of Indigennous and Scientific Concepts in Land and Forest Classification in Northern Thailand (Một nghiên cứu so sánh giữa tri thức của người bản địa và các khái niệm khoa học về sự phân chia rừng và đất ở miền Bắc Thái Lan) của Santita Ganjanapan. In trong Seeing Forest for tree: Environment and Environmentalism in Thailand: Philip Hirch biên tập. Chiang Mai: Silk Worm bock (1997)
Cũng theo hướng lý thuyết này, ở Việt Nam có các công trình như: Ảnh hưởng của việc phát rừng làm nương rẫy đối với môi trường sinh thái của các dân tộc miền núi Tây Bắc của Hoàng Cầm, công trình dự thi sinh viên nghiên cứu khoa học do Bộ giáo dục và đào tạo tổ chức, Hà Nội, 1994. Tri thức bản địa trong việc bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam của Phạm Quan Hoan, tài liệu trình bày trong hội thảo Các cộng đồng tộc người trong sự thay đổi của môi trường sinh thái, Chiang Mai, 1997. Nghi thức, nghi lễ và việc bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên của người Thái của Hoàng Cầm (tạp chí Văn hóa dân gian, số 2, 2000). Tín ngưỡng và lễ tục dân gian đối với môi trường sinh thái tự nhiên của Ninh Viết Giao (tạp chí Văn hóa dân gian, số 1, 2002).
Nhiều nhà nghiên cứu đã tiếp cận và giải quyết vấn đề theo hướng gắn liền tập quán mưu sinh của các tộc người bản địa với các yếu tố môi sinh trong vùng. Tiêu biểu có công trình Tập quán mưu sinh của các dân tộc thiểu số ở Đông Bắc Việt Nam của Trần Bình (2005). Nhiều bài viết được đăng trên tạp chí Dân tộc học (TCDTH) như: Tài nguyên rừng đối với cuộc sống và truyền thống sản xuất của đồng bào thuộc các tộc người Việt Nam của Võ Trí Chung, (TCDTH, số 2, 1984). Ứng xử của người Dao Tuyển - Khởi Khe với môi trường của Vi Văn Đông, (TCDTH, số 1, 1997). Phát huy tiềm năng thế mạnh của kinh tế rừng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội miền núi của Phan Xuân Đợt (TCDTH, số 1, 1983). Tri thức địa phương trong việc sử dụng thuốc nam của người Dao Đỏ của Trần Hồng Hạnh (TCDTH, số 5, 2000). Tri thức địa phương tộc người tác động đến dân số - kế hoạch hoá gia đình và các dân tộc thiểu số các tỉnh miền núi phía Bắc của Đặng Thị Hoa (TCDTH, số 1, 2001). Tri thức địa phương về cây thuốc của người Mông ở Tây Bắc Việt Nam của Đặng Thị Hoa (TC DTH, số 6, 2001). Vai trò của các thiết chế xã hội truyền thống trong việc quản lý nguồn tài nguyên cộng đồng của người Mông của Phạm Quang Hoan (TCDTH, số 2, 1994). Các dân tộc thiểu số và việc quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên ở vùng cao Việt Nam của Phạm Quang Hoan, Hoàng Hữu Bình (TCDTH, số 3, 1996). Ứng xử của người Mông và môi trường của Phạm Quang Hoan, Nguyễn Ngọc Thanh (TCDTH, số 4, 1998). Vài nét về truyền thống quản lý và bảo vệ rừng của người Mnông của Lưu Hùng (TCDTH, số 3, 2001). Người Mnông trước tình trạng suy giảm tài nguyên thiên nhiên của Lưu Hùng (TCDTH, số 5, 2002). Ảnh hưởng của thiết chế xã hội truyền thống tới hưởng sử dụng đất đai ngày nay ở người Mường của Quách Thị Oanh (TCDTH, số 4, 2003).
Dưới góc độ văn hoá dân gian có các bài viết đăng trên tạp chí chuyên ngành như: Vai trò của luật tục vùng cao trong công tác giao đất khoán rừng và quản lý tài nguyên thiên nhiên của Hoàng Xuân Tý (TCVHDG, số 1, 2000). Luật tục và việc quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên của Ngô Đức Thịnh (TCVHDG, số 4, 1998). Luật tục với việc phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam của Ngô Đức Thịnh (TCVHDG, số 1, 2000). Buôn làng, luật tục và vấn đề quản lý cộng đồng của các dân tộc Tây Nguyên hiện nay của Ngô Đức Thịnh (TCVHDG, số 1, 2002). Hương ước với vấn đề bảo vệ môi trường của Võ Quang Trọng (TCVHDG, số 1, 2002). Lễ hội dân gian và sự phản ánh những truyền thống văn hoá của dân tộc của Đinh Gia Khánh (TCVHDG, số 2, 2000).
Như vậy, điểm qua hàng loạt các công trình và bài viết tiêu biểu của các nhà khoa học trong và ngoài nước qua các thời kỳ lịch sử, chúng ta thấy, các tác phẩm đã công bố mới chỉ đề cập đến người Hà Nhì ở góc độ sử học và văn hoá học hoặc dân tộc học ở góc nhìn mang tính tổng quan. Hoặc mối liên hệ giữa văn hoá với môi trường ở các dân tộc khác chứ chưa có một chuyên khảo nào đề cập đến Tập quán quản lý và khai thác các tài nguyên rừng, đất đai, nguồn nước của dân tộc Hà Nhì một cách đầy đủ và hệ thống, ngoại trừ công trình Tập quán mưu sinh của các dân tộc thiểu số ở Đông Bắc Việt Nam của Trần Bình là có đề cập đến một khía cạnh của vấn đề này ở góc độ của tập quán mưu sinh.
Để hoàn thành công trình nghiên cứu này, chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều nhà khoa học và các nghệ nhân dân gian mà đặc biệt là TS. Trần Hữu Sơn (Sở Văn hoá - thông tin tỉnh Lào Cai) đã động viên, khích lệ và góp ý cho công trình; nghệ nhân Pờ H'lóng Tơ, người dân tộc Hà Nhì ở bản Mù Cả, xã Mù Cả, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu đã cung cấp cho chúng tôi rất nhiều tư liệu quý như: trường ca Xa Nhà Ca, sử thi P'huỳ Ca - Na Ca, nội dung các bài cúng, luật tục, các bài dân ca, các câu vần truyền khẩu, các câu truyện cổ . của người Hà Nhì mà ngày nay hầu hết cư dân các bản Hà Nhì ở Mường Tè không còn biết hoặc không nhớ. Đồng thời, chúng tôi cũng nhận được sự giúp đỡ, động viên của rất nhiều cơ quan, đơn vị bộ đội và nhân dân ở các địa bàn chúng tôi triển khai điền dã. Nhân đây, chúng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới lãnh đạo và nhân dân các địa phương, các cán bộ, chiến sĩ Bộ Chỉ huy Biên phòng tỉnh Lai Châu và các Đồn biên phòng 311, 313 và đồn 315.
Do khả năng có hạn cộng thêm những khó khăn về thời gian và kinh phí, cuốn sách chắc chắn còn nhiều khiếm khuyết, chúng tôi kính mong nhận được những đóng góp quý báu và lượng thứ của độc giả./.
Bùi Quốc Khánh
Tác giả: Lò Ngọc Biên – Bùi Quốc Khánh (đồng chủ biên).
Năm xuất bản: 2008.
Giới thiệu:
Tri thức dân gian hay còn gọi là tri thức bản địa là những hiểu biết của các thế hệ con người ở một vùng, một địa phương về những sự vật, hiện tượng hiện hữu xung quanh (bao gồm tự nhiên và xã hội) cùng những tri thức có được qua quá trình giao lưu, tiếp xúc với bên ngoài. Những tri thức ấy được chắt lọc, lưu truyền dưới nhiều hình thức qua nhiều thế hệ làm hình thành nên những tập quán quản lý và khai thác các tài nguyên thiên nhiên cùng các cung cách ứng xử đối với các tài nguyên đó nhằm thích ứng với môi trường tự nhiên và xã hội của con người.
Cuộc sống của người Hà Nhì luôn gắn bó với rừng, rừng không chỉ cung cấp cho họ nguồn thức ăn (thịt, rau, măng, nấm, củ, quả các loại) mà nó còn cho họ đất trồng trọt, nước sinh hoạt, tưới tiêu . Tất cả hợp lại tạo thành một môi trường sống và từ lâu đã hình thành một môi trường văn hoá của người Hà Nhì - văn hoá rừng, mà nói rộng ra là văn hoá ứng xử với các nguồn tài nguyên thiên nhiên: rừng, đất đai và nguồn nước. Từ các hoạt động mưu sinh như khai thác những nguồn lợi tự nhiên (săn bắt, hái lượm), các hoạt động sản xuất (trồng trọt, chăn nuôi), một số sản phẩm dùng trong trao đổi, mua bán cho đến các hoạt động văn hoá (tín ngưỡng, lễ hội, văn học - nghệ thuật), tổ chức và quan hệ xã hội, văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần của người Hà Nhì đều không tách khỏi mối quan hệ với rừng, đất đai và nguồn nước.
Đối với con người rừng, đất rừng và nguồn nước có hai chức năng chủ yếu. Thứ nhất, đó là nơi cung cấp tài nguyên, lương thực, thực phẩm và điều hoà môi trường sống. Thứ hai là chức năng thông tin (thông tin môi trường, thông tin xã hội, thông tin văn hoá .). Trong đó, những thông tin về văn hoá đóng vai trò quan trọng. Vì vậy, rừng không chỉ là đối tượng nghiên cứu của các ngành môi trường, lâm nghiệp, địa chất, khoáng sản, sử học (lịch sử tự nhiên) . mà còn là đối tượng nghiên cứu của văn hoá học, dân tộc học.
Nghiên cứu Tập quán quản lý và khai thác các tài nguyên rừng, đất đai, nguồn nước của dân tộc Hà Nhì ở Mường Tè, chúng tôi có đề cập đến chức năng thứ nhất của các tài nguyên rừng, đất đai, nguồn nước - chức năng nuôi sống và điều hoà môi trường sống cho con người. Ở đây không chỉ chú ý tới các loại tài nguyên rừng (cây cối, chim muông .) hay quy mô, độ che phủ . mà thông qua việc tìm hiểu các tập quán và cách ứng xử của người Hà Nhì với các nguồn tài nguyên kể trên để tìm hiểu tri thức và kinh nghiệm dân gian của người Hà Nhì. Nguồn tri thức này sẽ được phản ánh cả trong tập quán pháp, trong thơ ca, truyện kể của người Hà Nhì, thấm đẫm trong các ứng xử của người Hà Nhì với rừng.
Nhưng vấn đề quan trọng hơn, cái đích của công trình là tìm hiểu chức năng thứ hai của rừng - chức năng thông tin; bởi thông qua việc sử dụng các tài nguyên rừng, đất rừng và nguồn nước người ta nhận biết được cộng đồng dân cư ở đó đã có thái độ như thế nào đối với rừng. Những cánh rừng còn phản ánh dấu ấn tộc người, dấu ấn của lịch sử, dấu ấn của một nền kinh tế, của thiết chế xã hội .
Tìm hiểu tập quán quản lý và khai thác các tài nguyên rừng, đất đai, nguồn nước của dân tộc Hà Nhì ở Mường Tè cũng như nội dung thông tin của nó, chúng tôi muốn đề cập đến các giá trị văn hoá, lịch sử, xã hội của người Hà Nhì. Từ đó, góp phần tìm hiểu bản sắc văn hoá tộc người này.
Đối tượng nghiên cứu của công trình là hai nhóm Hà Nhì Lạ Mí và Hà Nhì Cồ Chồ ở huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu - một trong những địa phương có mật độ người Hà Nhì cư trú đông đảo và đậm đặc nhất trong toàn quốc, đồng thời cũng có sự bảo lưu văn hoá truyền thống tốt hơn cả. Trong đó, chúng tôi tập trung vào địa bàn cư trú chủ yếu của người Hà Nhì ở các xã vùng cao, vùng sâu Mù Cả, Ka Lăng, Thu Lũm; đồng thời có so sánh, đối chiếu với các bản Hà Nhì ở các xã vùng thấp, vùng gần thị trấn, gần đường như Kan Hồ, Hua Bum, Bum Nưa, Bum Tở.
Nguồn tài liệu nghiên cứu chủ yếu là tài liệu điền dã, đồng thời có tham khảo một số công trình của một số tác giả trong và ngoài nước đã công bố, và một số bài báo đăng trên các tạp chí Dân tộc học, tạp chí Văn hoá dân gian (TCVHDG) trong những năm qua có liên quan đến các vấn đề nghiên cứu trong công trình này.
Để tìm hiểu các giá trị văn hoá tộc người và các tập quán quản lý và khai thác các tài nguyên thiên nhiên tại các địa bàn cơ sở nên phương pháp đầu tiên được áp dụng ở đây là phương pháp điền dã khảo sát thực địa, lấy kết quả của quá trình điền dã làm tài liệu cơ bản trong quá trình nghiên cứu. Tập quán quản lý và khai thác các tài nguyên thiên là một tập hợp các yếu tố văn hoá, kinh tế, xã hội trong một tổng thể không thể tách rời, phản ánh không chỉ mối quan hệ giữa con người với con người mà còn là mối quan hệ hai chiều giữa con người với thiên nhiên. Do đó, nghiên cứu tri thức dân gian về rừng của người Hà Nhì không thể chỉ xem xét từ góc độ tự nhiên mà phải áp dụng phương pháp hệ thống, xác định đó là một hệ thống gồm nhiều yếu tố khác nhau liên quan đến nếp sống tộc người, tôn giáo tín ngưỡng, phong tục, biểu tượng, các cung cách ứng xử khác nhau . Đồng thời, để nghiên cứu hiện tượng văn hoá này cũng cần áp dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành và đa ngành, phương pháp chuyên gia. Mặt khác, nghiên cứu tri thức dân gian về rừng của người Hà Nhì cũng cần nghiên cứu sự giống và khác nhau với các nhóm Hà Nhì khác (Hà Nhì Cồ Chồ, Hà Nhì Đen), giữa địa phương này với địa phương khác, các tập tục cổ truyền cũng như sự biến đổi . Bởi vậy, cần áp dụng phương pháp so sánh đồng đại và lịch đại.
Trong lịch sử, người Hà Nhì đã được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ và cấp độ khác nhau. Riêng ở lĩnh vực sử học và địa lý, thời cổ trung đại ở Trung Quốc có các tác phẩm Sử ký Tư Mã Thiên, Hán Thư, Sử ký Tây nam Di Việt truyện, Hoa Dương Quốc chí, Man thư, Đường thư, Vạn lịch Vân Nam thống chí được viết vào các đời Tần, Hán, Đường. Các tác phẩm này ít nhiều đều có đề cập đến người Hà Nhì với tư cách là một trong các chủ nhân của các quốc gia cổ đại, những cuộc chiến tranh thị tộc, bộ lạc ở phía nam Trung Nguyên hay nguyên nhân và các bước đường di cư của tộc người này, chứ chưa đi sâu vào tìm hiểu những tri thức dân gian hay những tập tục của người Hà Nhì với rừng.
Đề cập đến người Hà Nhì dưới góc độ lịch sử và dân tộc học đã được một số nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm từ đầu thập niên 60 của thế kỷ trước. Mở đầu là tác phẩm Chế độ nô lệ và nhà nước Nam Chiếu của học giả Trung Quốc Ma Trường Thọ (ấn hành năm 1960), tác phẩm đi sâu vào nghiên cứu lịch sử và chế độ xã hội cổ truyền của một số dân tộc ít người ở vùng Hoa Nam, trong đó có người Hà Nhì với tư cách là một trong những chủ nhân của vương quốc Nam Chiếu cổ xưa. Năm 1985, Viện Dân tộc học thuộc Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam (nay là Viện Khoa học xã hội Việt Nam) đã cho ra mắt công trình Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc). Trong đó, người Hà Nhì được đề cập đến với tư cách là một dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến. Năm 1985, tác giả Nguyễn Văn Huy công bố tác phẩm Nếp sống văn hoá nhóm ngôn ngữ Hà Nhì - Lô Lô. Cuốn sách đã phần nào nêu lên được những phong tục và một số nét văn hoá chủ yếu của người Hà Nhì ở Việt Nam. Năm 2004, tác giả Chu Thuỳ Liên đã công bố công trình Tìm hiểu văn hoá dân tộc Hà Nhì ở Việt Nam. Đây là công trình dân tộc học đầu tiên đề cập khá đầy đủ và chi tiết về văn hoá người Hà Nhì, trong đó có nhiều mục đề cập đến những tác động của rừng đối với người Hà Nhì và một số nghi lễ tín ngưỡng của người Hà Nhì với rừng.
Dưới góc độ văn hoá dân gian, năm 1985, sinh viên Lê Đình Lai đã thực hiện Luận văn tốt nghiệp với đề tài Sơ bộ tìm hiểu và giới thiệu hai truyện thơ dài "Xa Nhà Ca" và "Phuỳ cá ná cá" của dân tộc Hà Nhì.
Dưới góc độ quản lý văn hoá, cuốn sách Văn hoá Hà Nhì trên con đường phát triển của Nhà xuất bản Bắc Kinh ấn hành (1980), đã bước đầu phản ánh một cách có hệ thống những yếu tố văn hoá truyền thống của người Hà Nhì và những biến đổi trong thời kỳ mới.
Trước sự khủng hoảng ngày càng trầm trọng của môi trường, ngày càng có nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm đến mối quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên. Trong đó nghiên cứu chuyên về môi trường dưới góc độ dân tộc học và văn hoá học đã được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm và tiếp cận với nhiều hướng khác nhau.
Nhiều công trình đã nhìn nhận tôn giáo, nghi thức và các biểu tượng như là một thực thể điều hoà mối quan hệ giữa con người và tự nhiên. Ở nước ngoài, tiêu biểu có các công trình như: Forest, Indigenous Peoples and Biodiversity (Rừng, những con người bản địa và sự đa dạng sinh thái) của Barsh, Russel Lawrence, in trong Indigenous People and Forest. Monteal: January. Body of Power, Spirit of Resistance: the Culture and History of a South African People (Hình thể của sức mạnh, linh hồn của sự đối kháng: Văn hoá và lịch sử của người Nam Phi) của Camaroff, Jean (1995). Cosmology as Ecological Analysis: A view from the Rain Forest (Vũ trụ quan như là sự phân tích sinh thái học: Một nghiên cứu từ vùng rừng nhiệt đới) của G.Reichel - Dolmatoff (1975). Huxlec memorial lecture. Local Model of the Environment: Anthropological Perspectives (Mô hình bản địa về môi trường: những cách tiếp cận nhân học) của Kaj Arhem. Tài liệu trình bày trong hội thảo Các cộng đồng tộc người trong sự thay đổi của môi trường sinh thái. Chiang Mai, 1997. A Comparative Study of Indigennous and Scientific Concepts in Land and Forest Classification in Northern Thailand (Một nghiên cứu so sánh giữa tri thức của người bản địa và các khái niệm khoa học về sự phân chia rừng và đất ở miền Bắc Thái Lan) của Santita Ganjanapan. In trong Seeing Forest for tree: Environment and Environmentalism in Thailand: Philip Hirch biên tập. Chiang Mai: Silk Worm bock (1997)
Cũng theo hướng lý thuyết này, ở Việt Nam có các công trình như: Ảnh hưởng của việc phát rừng làm nương rẫy đối với môi trường sinh thái của các dân tộc miền núi Tây Bắc của Hoàng Cầm, công trình dự thi sinh viên nghiên cứu khoa học do Bộ giáo dục và đào tạo tổ chức, Hà Nội, 1994. Tri thức bản địa trong việc bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam của Phạm Quan Hoan, tài liệu trình bày trong hội thảo Các cộng đồng tộc người trong sự thay đổi của môi trường sinh thái, Chiang Mai, 1997. Nghi thức, nghi lễ và việc bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên của người Thái của Hoàng Cầm (tạp chí Văn hóa dân gian, số 2, 2000). Tín ngưỡng và lễ tục dân gian đối với môi trường sinh thái tự nhiên của Ninh Viết Giao (tạp chí Văn hóa dân gian, số 1, 2002).
Nhiều nhà nghiên cứu đã tiếp cận và giải quyết vấn đề theo hướng gắn liền tập quán mưu sinh của các tộc người bản địa với các yếu tố môi sinh trong vùng. Tiêu biểu có công trình Tập quán mưu sinh của các dân tộc thiểu số ở Đông Bắc Việt Nam của Trần Bình (2005). Nhiều bài viết được đăng trên tạp chí Dân tộc học (TCDTH) như: Tài nguyên rừng đối với cuộc sống và truyền thống sản xuất của đồng bào thuộc các tộc người Việt Nam của Võ Trí Chung, (TCDTH, số 2, 1984). Ứng xử của người Dao Tuyển - Khởi Khe với môi trường của Vi Văn Đông, (TCDTH, số 1, 1997). Phát huy tiềm năng thế mạnh của kinh tế rừng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội miền núi của Phan Xuân Đợt (TCDTH, số 1, 1983). Tri thức địa phương trong việc sử dụng thuốc nam của người Dao Đỏ của Trần Hồng Hạnh (TCDTH, số 5, 2000). Tri thức địa phương tộc người tác động đến dân số - kế hoạch hoá gia đình và các dân tộc thiểu số các tỉnh miền núi phía Bắc của Đặng Thị Hoa (TCDTH, số 1, 2001). Tri thức địa phương về cây thuốc của người Mông ở Tây Bắc Việt Nam của Đặng Thị Hoa (TC DTH, số 6, 2001). Vai trò của các thiết chế xã hội truyền thống trong việc quản lý nguồn tài nguyên cộng đồng của người Mông của Phạm Quang Hoan (TCDTH, số 2, 1994). Các dân tộc thiểu số và việc quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên ở vùng cao Việt Nam của Phạm Quang Hoan, Hoàng Hữu Bình (TCDTH, số 3, 1996). Ứng xử của người Mông và môi trường của Phạm Quang Hoan, Nguyễn Ngọc Thanh (TCDTH, số 4, 1998). Vài nét về truyền thống quản lý và bảo vệ rừng của người Mnông của Lưu Hùng (TCDTH, số 3, 2001). Người Mnông trước tình trạng suy giảm tài nguyên thiên nhiên của Lưu Hùng (TCDTH, số 5, 2002). Ảnh hưởng của thiết chế xã hội truyền thống tới hưởng sử dụng đất đai ngày nay ở người Mường của Quách Thị Oanh (TCDTH, số 4, 2003).
Dưới góc độ văn hoá dân gian có các bài viết đăng trên tạp chí chuyên ngành như: Vai trò của luật tục vùng cao trong công tác giao đất khoán rừng và quản lý tài nguyên thiên nhiên của Hoàng Xuân Tý (TCVHDG, số 1, 2000). Luật tục và việc quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên của Ngô Đức Thịnh (TCVHDG, số 4, 1998). Luật tục với việc phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam của Ngô Đức Thịnh (TCVHDG, số 1, 2000). Buôn làng, luật tục và vấn đề quản lý cộng đồng của các dân tộc Tây Nguyên hiện nay của Ngô Đức Thịnh (TCVHDG, số 1, 2002). Hương ước với vấn đề bảo vệ môi trường của Võ Quang Trọng (TCVHDG, số 1, 2002). Lễ hội dân gian và sự phản ánh những truyền thống văn hoá của dân tộc của Đinh Gia Khánh (TCVHDG, số 2, 2000).
Như vậy, điểm qua hàng loạt các công trình và bài viết tiêu biểu của các nhà khoa học trong và ngoài nước qua các thời kỳ lịch sử, chúng ta thấy, các tác phẩm đã công bố mới chỉ đề cập đến người Hà Nhì ở góc độ sử học và văn hoá học hoặc dân tộc học ở góc nhìn mang tính tổng quan. Hoặc mối liên hệ giữa văn hoá với môi trường ở các dân tộc khác chứ chưa có một chuyên khảo nào đề cập đến Tập quán quản lý và khai thác các tài nguyên rừng, đất đai, nguồn nước của dân tộc Hà Nhì một cách đầy đủ và hệ thống, ngoại trừ công trình Tập quán mưu sinh của các dân tộc thiểu số ở Đông Bắc Việt Nam của Trần Bình là có đề cập đến một khía cạnh của vấn đề này ở góc độ của tập quán mưu sinh.
Để hoàn thành công trình nghiên cứu này, chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều nhà khoa học và các nghệ nhân dân gian mà đặc biệt là TS. Trần Hữu Sơn (Sở Văn hoá - thông tin tỉnh Lào Cai) đã động viên, khích lệ và góp ý cho công trình; nghệ nhân Pờ H'lóng Tơ, người dân tộc Hà Nhì ở bản Mù Cả, xã Mù Cả, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu đã cung cấp cho chúng tôi rất nhiều tư liệu quý như: trường ca Xa Nhà Ca, sử thi P'huỳ Ca - Na Ca, nội dung các bài cúng, luật tục, các bài dân ca, các câu vần truyền khẩu, các câu truyện cổ . của người Hà Nhì mà ngày nay hầu hết cư dân các bản Hà Nhì ở Mường Tè không còn biết hoặc không nhớ. Đồng thời, chúng tôi cũng nhận được sự giúp đỡ, động viên của rất nhiều cơ quan, đơn vị bộ đội và nhân dân ở các địa bàn chúng tôi triển khai điền dã. Nhân đây, chúng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới lãnh đạo và nhân dân các địa phương, các cán bộ, chiến sĩ Bộ Chỉ huy Biên phòng tỉnh Lai Châu và các Đồn biên phòng 311, 313 và đồn 315.
Do khả năng có hạn cộng thêm những khó khăn về thời gian và kinh phí, cuốn sách chắc chắn còn nhiều khiếm khuyết, chúng tôi kính mong nhận được những đóng góp quý báu và lượng thứ của độc giả./.
Bùi Quốc Khánh