PDA

Xem tài liệu đầy đủ : Thạc Sỹ TS004 - Ước lượng suất sinh lợi của giáo dục ở Việt Nam



pilot
09-05-2009, 16:55
MỞ ĐẦU

1. Đặt vấn đề
“Vốn con người (Human Capital) là những gì có liên quan đến tri thức, kỹ năng và những thuộc tính tiêu biểu khác của một cá nhân mà nó có ảnh hưởng đến những hoạt động kinh tế” (OECD, 1998)1 . Vốn con người được hình thành thông qua việc đầu tư cho người lao động, bao gồm các khoản chi dùng vào các mặt giáo dục, bồi dưỡng kỹ thuật, bảo vệ sức khoẻ, lưu chuyển sức lao động trong nước, di dân nhập cảnh và các phúc lợi xã hội khác. Trong đó, quan trọng nhất là đầu tư giáo dục và bảo vệ sức khoẻ. Việc đầu tư này có lợi cho tố chất sức lao động, tức nâng cao năng lực công tác, trình độ kỹ thuật, mức độ lành nghề, mức độ sức khoẻ, có lợi cho việc tăng thêm số lượng người lao động phù hợp với nhu cầu tương lai, điều chỉnh sự thừa thiếu sức lao động hiện có trong nước, lợi dụng sức lao động nước ngoài và tiết kiệm chi phí giáo dục.

Quan niệm con người đầu tư cho mình có ý nghĩa rất rộng, bao gồm không chỉ đầu tư vào học tập trong nhà trường và đào tạo sau khi học mà còn đầu tư khi còn ở nhà, trước tuổi đi học và đầu tư vào thị trường lao động để tìm việc. Kinh tế học phương Tây dùng lý thuyết vốn con người để giải thích sự phân biệt các mức lương theo tuổi tác và nghề nghiệp, tỉ lệ thất nghiệp không đồng đều, sự phân bổ nguồn lực lao động vào các khu vực kinh tế.

Chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay quan tâm nhiều đến việc đầu tư cho giáo dục, y tế và nghiên cứu khoa học nhằm tạo ra một nguồn nhân lực thích ứng với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong giai đoạn 2002 - 2006, ngân sách nhà nước chi cho giáo dục đào tạo chiếm tỷ trọng trong GDP tăng từ 4,2% lên 5,6%; và đến năm 2007 là 6,44%2. Chính sách tài chính cho giáo dục nhiều năm gần đây cho đến năm 2007 được giữ mức tỉ lệ 20% tổng chi ngân sách nhà nước và có thể tăng thêm lên đến 21-22% trong giai đoạn 2008-2010 theo hướng ưu tiên đầu tư ngân sách. Đây là mức tăng cao thể hiện sự quan tâm của Chính phủ đối với sự nghiệp giáo dục đào tạo. Theo quan điểm của Chính phủ, giáo dục làm tăng năng suất và thu nhập của người lao động là một tín hiệu tốt để thuyết phục Chính phủ chi đầu tư vào giáo dục.

Giáo dục là rất quan trọng. Mọi người đều biết rằng học càng nhiều thì sẽ càng có nhiều cơ hội để kiếm thêm thu nhập, tuy nhiên không phải tất cả mọi người đều đầu tư vào các mức học vấn cao như đại học. Đó là do nguồn tài nguyên của cá nhân (hay của gia đình) hạn hẹp, chi tiêu cho giáo dục phải cạnh tranh với nhiều khoản chi tiêu đáp ứng các nhu cầu khác. Nếu đầu tư cho giáo dục là có lợi, nghĩa là giáo dục tốt sẽ dẫn đến sự gia tăng thu nhập của người đầu tư, thì việc chi tiêu cho giáo dục rõ ràng là điều cần nên làm.

Đầu tư của Nhà nước và tư nhân vào giáo dục được định hướng bởi việc tính toán lợi suất đầu tư vào giáo dục, một chỉ tiêu được xem là lợi ích của giáo dục trong thị trường lao động. Chúng ta cũng có thể hiểu bản chất và hoạt động của thị trường lao động thông qua việc nắm bắt sự thay đổi của các lợi suất này theo các tính chất cá nhân và địa bàn, theo ngành kinh tế, theo loại hình kinh tế tại một thời điểm ; và sự thay đổi của chỉ số này qua thời gian. Sự hiểu biết này cũng sẽ giúp định hướng các chính sách đầu tư cho giáo dục.

Việc đi học sẽ đem lại lợi ích do gia tăng mức thu nhập, chúng ta đều có cảm nghĩ một cách định tính như vậy. Tuy nhiên, mức gia tăng đó là bao nhiêu nhất thiết cần phải được định lượng để nghiên cứu và so sánh.

Đề tài: Ước lượng suất sinh lợi của giáo dục ở Việt Nam

2. Mục tiêu nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sẽ trả lời những câu hỏi:
- Suất sinh lợi của việc đi học (giáo dục) ở Việt Nam vào thời điểm khảo sát là bao nhiêu phần trăm? Hay nói cách khác, khi tăng thêm một năm đi học thì thu nhập của người lao động làm thuê sẽ tăng thêm bao nhiêu phần trăm?
- Suất sinh lợi của giáo dục có sự khác biệt như thế nào khi xét đến các khác biệt về tính chất cá nhân (giới tính, cán bộ công chức, địa bàn cư trú và làm việc, bằng cấp giáo dục đào tạo), khác biệt về ngành kinh tế (nông nghiệp / phi nông nghiệp) và khác biệt về loại hình kinh tế làm thuê?

3. Phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này sử dụng bộ số liệu Khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam năm 2004 (KSMS 2004) của Tổng cục Thống kê và dựa vào hàm thu nhập của Mincer để ước lượng suất sinh lợi của giáo dục ở Việt Nam.
Để trả lời các câu hỏi của mục tiêu nghiên cứu, ngoài phương pháp mô tả thống kê, diễn dịch so sánh, nghiên cứu này dựa vào phương pháp định lượng bằng mô hình kinh tế lượng - hồi qui hàm thu nhập Mincer:
- Chọn mẫu và tính toán các giá trị biến số từ bộ số liệu KSMS 2004 của Tổng cục Thống kê (bộ số liệu này lưu giữ dưới định dạng của phần mềm Stata, được trích xuất và chuyển thành định dạng của phần mềm Excel để tính toán )
- Thực hiện hồi qui và kiểm định các hệ số ước lượng của hàm thu nhập Mincer bằng phần mềm Eviews .

4. Cấu trúc luận văn
Ngoài lời mở đầu, danh mục các bảng, danh mục các hình, danh mục các chữ viết tắt, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu gồm 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận về suất sinh lợi của giáo dục.
Nội dung chương này là trình bày tổng quan lý thuyết vốn con người, mô hình học vấn và trình bày diễn dịch toán học của Mincer dẫn đến mô hình hàm thu nhập cho phép ước lượng được hiệu quả của giáo dục và kinh nghiệm bằng phương pháp hồi qui kinh tế lượng, đồng thời nêu lên những giới hạn và ưu điểm của mô hình này. Phần cuối chương 1 trình bày các kết quả nghiên cứu thực nghiệm ước lượng suất sinh lợi của giáo dục trên thế giới dựa trên hàm thu nhập Mincer.
- Chương 2: Hiệu quả của giáo dục ở Việt Nam qua mô tả thống kê.
Chương 2 được bắt đầu từ việc giới thiệu sơ lược về cuộc Khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam năm 2004 do Tổng cục Thống kê thực hiện. Mục tiêu chương này là nghiên cứu hiệu quả của giáo dục ở Việt Nam bằng phương pháp mô tả thống kê: khảo sát tình trạng đi học và làm việc ở Việt Nam, phân tích sự hiệu quả khi hộ gia đình đầu tư cho giáo dục, căn cứ vào mức chi phí cho việc đi học và mức tăng tiền lương khi trình độ học vấn tăng thêm. Phần cuối chương 2 trình bày các bằng chứng thực nghiệm của các nghiên cứu thực nghiệm về hiệu quả của giáo dục ở Việt Nam vào những năm trước đây.
- Chương 3: Ước lượng suất sinh lợi của giáo dục ở Việt Nam năm 2004.
Mục tiêu của chương 3 là ước lượng suất sinh lợi của giáo dục ở Việt Nam (năm
2004) bằng phương pháp kinh tế lượng: hồi qui hàm thu nhập Mincer. Trong chương này, tác giả đề nghị các mẫu được chọn lựa ; đề nghị phương án tính toán số năm đi học căn cứ vào hệ thống giáo dục ở Việt Nam có nhiều thay đổi qua các thời kỳ lịch sử, và việc tính toán các biến giải thích khác. Phần cuối của chương này trình bày kết quả nghiên cứu ước lượng các hệ số, khi hồi qui với hàm thu nhập Mincer cơ sở và mở rộng, gồm cả với việc xét đến các tính chất quan sát.

Kết luận và gợi ý chính sách:
Dựa trên các phân tích ở chương 2 và kết quả thực nghiệm ở chương 3, tác giả đưa ra những kết luận của nghiên cứu cùng với gợi ý về chính sách, đồng thời đề xuất nghiên cứu tiếp theo.

pilot
22-12-2010, 09:36
MỤC LỤC

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục
Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt
Danh mục các bảng, biểu
Danh mục các hình, đồ thị

MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
2. Mục tiêu nghiên cứu
3. Phạm vi và phương pháp nghiên cứu
4. Cấu trúc của luận văn .

CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SUẤT SINH LỢI CỦA GIÁO DỤC
Giới thiệu
1.1 Lý thuyết vốn con người
1.2 Giáo dục và thu nhập – Mô hình đi học
1.3 Hàm thu nhập Mincer
1.3.1 Sự hiệu quả của đầu tư trong mô hình đi học
1.3.2 Đầu tư cho đào tạo trong thời gian làm việc
1.3.3 Hàm ước lượng logarithm thu nhập
1.3.4 Những ưu điểm và giới hạn của mô hình hàm thu nhập Mincer
1.3.4.1 Những giới hạn
1.3.4.2 Những ưu điểm
1.4 Các bằng chứng thực nghiệm với mô hình hàm thu nhập Mincer
Tóm tắt Chương 1

CHƯƠNG 2 : HIỆU QUẢ CỦA GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM QUA MÔ TẢ THỐNG KÊ
Giới thiệu
2.1 Khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam năm 2004
2.1.1 Nội dung khảo sát
2.1.2 Phạm vi khảo sát và phương pháp thu thập số liệu
2.1.3 Khai thác dữ liệu từ KSMS 2004
2.2 Tình trạng đi học và làm việc ở Việt Nam vào năm 2004
2.2.1 Giáo dục ở Việt Nam qua các số liệu thống kê
2.2.2 Thực trạng đi học và làm việc
2.3 Hiệu quả của đầu tư cho giáo dục
2.3.1 Đầu tư cho giáo dục
2.3.2 Hiệu quả của đầu tư cho giáo dục qua mô tả thống kê
2.3.3 Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây đối với Việt Nam
Tóm tắt chương 2

CHƯƠNG 3 : ƯỚC LƯỢNG SUẤT SINH LỢI CỦA GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM VÀO NĂM 2004
Giới thiệu
3.1 Mô hình hồi qui và phương pháp hồi qui
3.1.1 Mô hình hồi qui
3.1.2 Phương pháp hồi qui
3.2 Cỡ mẫu
3.2.1 Tiêu chí chung cho việc chọn mẫu
3.2.2 Mẫu khảo sát 1
3.2.3 Mẫu khảo sát 2
3.3 Xác định giá trị các biến số quan sát
3.3.1 Xác định giá trị biến phụ thuộc : logarithm của thu nhập
3.3.2 Xác định giá trị các biến độc lập
3.3.2.1 Số năm đi học (S)
3.3.2.2 Kinh nghiệm tiềm năng (T)
3.3.2.3 Số tháng làm việc (M) và số giờ làm việc (H)
3.3.3 Các biến giả trong hàm hồi qui
3.4 Kết quả hồi qui ước lượng hiệu quả của việc đi học và kinh nghiệm
3.4.1 Ước lượng các hệ số hồi qui với hàm hồi qui cơ sở
3.4.2 Ước lượng các hệ số hồi qui với hàm hồi qui mở rộng
3.4.3 Ước lượng suất sinh lợi của giáo dục theo các tính chất quan sát
3.4.3.1 Ước lượng hệ số theo đặc điểm giới tính, chức nghiệp và địa bàn
3.4.3.2 Ước lượng hệ số theo ngành kinh tế và loại hình kinh tế
3.4.3.3 Ước lượng hệ số theo trình độ học vấn
Tóm tắt chương 3

KẾT LUẬN

1. Kết luận của nghiên cứu
2. Một số gợi ý chính sách
3. Đề xuất nghiên cứu tiếp theo

TÀI LIỆU THAM KHẢO

pilot
22-12-2010, 09:37
PHỤ LỤC

Phụ lục 1 Các bảng câu hỏi trích từ KSMS 2004
Phụ lục 2 Báo cáo kết quả hồi qui và kiểm định
Những vấn đề chung
1. Lựa chọn mô hình
2. Kiểm định
3. Điều chỉnh tác động của hiện tượng phương sai của sai số thay đổi
Phụ lục 2.1 : Báo cáo kết quả hồi qui và kiểm định hàm hồi qui cơ sở
PL2.1.1 Hàm hồi qui với mức lương theo năm
PL2.1.2 Hàm hồi qui với mức lương tháng
PL2.1.3 Hàm hồi qui với mức lương theo giờ
PL2.1.3.1. Sử dụng mẫu gồm 3457 quan sát làm việc trọn 12 tháng
PL2.1.3.2. Sử dụng mẫu gồm 5646 quan sát làm việc trên 6 tháng
PL2.1.3.3. Sử dụng mẫu gồm 6614 quan sát làm việc từ 1 đến 12 tháng
Phụ lục 2.2 : Báo cáo kết quả hồi qui và kiểm định hàm hồi qui mở rộng
PL2.2.1 Mở rộng với biến ln(M)
PL2.2.2 Mở rộng với biến ln(H)
PL2.2.2.1. Sử dụng mẫu gồm 3457 quan sát làm việc trọn 12 tháng
PL2.2.2.2. Sử dụng mẫu gồm 5646 quan sát làm việc trên 6 tháng
PL2.2.2.3. Sử dụng mẫu gồm 6614 quan sát làm việc từ 1 đến 12 tháng
Phụ lục 2.3 : Báo cáo kết quả hồi qui với các biến giả theo tính chất
PL2.3.1 Theo giới tính
PL2.3.2 Theo chức nghiệp (cán bộ công chức)
PL2.3.3 Theo địa bàn
PL2.3.4 Theo ngành kinh tế
PL2.3.5 Theo loại hình kinh tế
PL2.3.6 Theo trình độ học vấn, bằng cấp giáo dục đào tạo
PL2.3.7 Bảng tổng hợp các hệ số ước lượng theo tính chất quan sát

Danh mục chữ viết tắt và ký hiệu
ĐTNN : Đầu tư nước ngoài
IRR : Tỷ suất thu hồi nội bộ (Internal Rate of Return - IRR) KSMS 2004 : Khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam năm 2004
(Vietnam Household Living Standards Survey – VHLSS 2004) NPV : Tổng giá trị hiện tại ròng (Net Present Value – NPV)
PV : Giá trị hiện tại (Present Value - PV) TCTK : Tổng cục Thống kê
THCN : Trung học chuyên nghiệp
THCS : Trung học cơ sở
THPT : Trung học phổ thông
TP.HCM : Thành phố Hồ Chí Minh

Danh mục các bảng
Bảng 1.1 Hệ số của số năm đi học : Suất sinh lợi của hàm Mincer
Bảng 2.1 Danh mục câu hỏi phỏng vấn cung cấp dữ liệu
Bảng 2.2 Tỷ lệ dân số từ 10 tuổi trở lên biết chữ
Bảng 2.3 Chi tiêu cho giáo dục, đào tạo bình quân 1 người đi học trong 1 năm
Bảng 2.4 Tình trạng đi học và làm việc theo độ tuổi
Bảng 2.5 Phần trăm đi học và làm việc
Bảng 2.6 Thu nhập và chi tiêu cho giáo dục bình quân một người/tháng
Bảng 2.7 Mức lương theo trình độ học vấn (mức chung cả nước)
Bảng 2.8 Mức lương theo trình độ học vấn ở thành thị và nông thôn
Bảng 2.9 Mức lương theo trình độ học vấn với các tính chất quan sát
Bảng 2.10 Nghiên cứu của Gallup: Hiệu quả của giáo dục ở Việt Nam
Bảng 2.11 Ước lượng suất sinh lợi của việc đi học ở Việt Nam năm 2002
Bảng 3.1 Cỡ mẫu và các tính chất của mẫu khảo sát
Bảng 3.2 Hệ thống giáo dục miền Bắc qua các thời kỳ
Bảng 3.3 Số năm đi học theo các loại hình đào tạo và năm sinh
Bảng 3.4 Các kết quả hồi qui với hàm hồi qui cơ sở
Bảng 3.5 Các kết quả hồi qui với hàm hồi qui mở rộng
Bảng 3.6 Các hệ số ước lượng theo giới tính, chức nghiệp và địa bàn
Bảng 3.7 Các hệ số ước lượng theo ngành kinh tế và loại hình kinh tế
Bảng 3.8 Các hệ số ước lượng theo trình độ học vấn

Danh mục các hình
Hình 1.1 : Thu nhập và Số năm đi học
Hình 1.2 : Ước lượng thu nhập theo kinh nghiệm
Hình 2.1 Thu nhập và trình độ học vấn
Hình 2.2 Thu nhập và trình độ học vấn ở thành thị và nông thôn

pilot
22-12-2010, 10:00
TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tài liệu tham khảo tiếng Việt
Bộ Luật Giáo dục của Việt Nam (2005), các điều 26; 31 và 38
Bộ Luật Lao động của Việt Nam (2003), các điều 120 và 145
Bộ Tài chính, Số liệu Ngân sách nhà nước, http://www.mof.gov.vn/Default.aspx?tabid=5271 (truy cập ngày 11/12/2008)
Nguyễn Trung Anh (biên dịch) (2000), Kinh tế học Lao động, Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh.
Phạm Trí Cao và Vũ Minh Châu (2006), Kinh tế lượng ứng dụng, Nxb Lao động Xã hội, thành phố Hồ Chí Minh.
Trương thị Kim Chuyên, Thái Thị Ngọc Dung và Bạch Hồng Việt (1999), “Yếu tố ảnh hưởng đến đi học cấp II”, tr.120,Dominique Haughton, Jonathan Haughton, Sarah Bales, Trương thị Kim Chuyên, Nguyễn Nguyệt Nga, Hoàng Văn Kình (1999), Hộ gia đình Việt Nam nhìn qua phân tích định lượng, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
Nguyễn Quang Dong (2002), Kinh tế lượng với sự trợ giúp của phần mềm Eviews, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.
Nguyễn Xuân Thành (2006), Ước lượng suất sinh lợi của việc đi học ở Việt Nam: Phương pháp khác biệt trong khác biệt, Học liệu mở của FETP, Trường ĐH Kinh Tế tp.HCM. http://www.fetp.edu.vn/index.cfm?rframe=/research_casestudy/research_caseintrov.htm (truy cập ngày 14/3/2008)
Tổng cục Thống kê (2006), Kết quả khảo sát mức sống hộ gia đình năm 2004, Hà Nội.
Tổng cục Thống kê , Điều tra mức sống hộ gia đình năm 2004.
http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=444&idmid=4 (truy cập ngày 16/4/2008)

Tài liệu tham khảo tiếng Anh
Beker, S. Gary (1993), Human Capital: A Theoretical and Empirical Analysis, with Special Reference to Education, The University of Chicago Press. Borjas, George J. (2005),Labor Economics, McGraw-Hill, Third Edition.
Gallup, John (2004), “Wage Labor Market and Inequality in Vietnam”, in Paul Glewwe at al, Economic Growth, Poverty, and Household in Vietnam, Edited, Worbank Regional and Sectoral Studies. http://books.google.com/books?id=jRSuIH1tVqEC&printsec=frontcover&hl=vi#PPA63,M1 (truy cập ngày16/3/2008) Mincer, Jacob (1974), Schooling, Experience and Earning, Nation Bureau of Economic Research, Colombia University Press .
Mincer, Jacob (1989), Human Capital Responses to Technological Change in the Labor Market, National Bureau of Economic Research Working Paper No.3207, http://papers.ssrn.com/sol3/papers.cfm?abstract_id=226714 (truy cập ngày 28/3/2008).
OECD (1998), Human Capital Investment- An International Comparision, Paris: OECD
Psacharopoulos, George (1993), “Returns to Investment in Education: A Global Update”, World Development, 22(9), The World Bank.