PhanTom_CEO Duy
17-03-2011, 18:45
BH xe cơ giới và trục lợi BH xe cơ giới
Chương I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI VÀ TRỤC LỢI BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI.
I. THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH XE CƠ GIỚI TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY.
Xe cơ giới:
Là tất cả các loại xe tham gia giao thông trên đường bộ bằng động cơ của chính chiếc xe đó, trừ xe đạp máy.
Theo Luật giao thông đường bộ: tại Điều 3, Mục 13, 15.
Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ (sau đây gọi là xe cơ giới) gồm: xe ôtô, máy kéo, xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy và các loại xe tương tự kể cả xe cơ giới dành cho người tàn tật.
Xe máy chuyên dùng gồm xe máy thi công, xe máy nông nghiệp, lâm nghiệp có tham gia giao thông đường bộ.
1. Đặc điểm hoạt động của xe cơ giới tại Việt Nam hiện nay.
Trong quá trình hoạt động xe cơ giới có một số đặc điểm sau liên quan đến quá trình bảo hiểm:
- Số lượng đầu xe tham gia giao thông đường bộ ngày càng tăng và có những thời kỳ tăng đột biến làm cho tai nạn có những thời kỳ xảy ra ngày càng nhiều và càng nghiêm trọng. Năm 1995 số lượng ôtô là 340.779 chiếc, xe máy 3.578.156 chiếc nhưng đến năm 2004 (chỉ 10 năm sau) số lượng ôtô đã là 735.000 chiếc và xe máy 12.859.000 chiếc. Vậy chỉ trong 10 năm số lượng ôtô đã tăng 2,2 lần và số lượng xe máy đã tăng 3,6 lần.
- Xe cơ giới có tính động cơ cao, tính việt dã tốt và nó tham gia triệt để vào quá trình vận chuyển vì vậy xác xuất rủi ro là rất lớn.
- Xe cơ giới tham gia giao thông đường bộ phụ thuộc rất lớn vào cơ sở hạ tầng, thời tiết khí hậu, địa hình Năm 1995 có 112.996 km đường bộ, nhưng chỉ có 19,8% đường rải nhựa và bê tông. Cho đến năm 2004 có 127.678 km, trong đó 38% là đường rải nhựa và bê tông. Hiện nay nước ta có 109 đèo dốc nguy hiểm các loại.
- Xe cơ giới tham gia giao thông đường bộ chịu sự chi phối của một số bộ luật của quốc gia.
Do những đặc điểm trên có tính đặc thù nên ở tất cả các nước khi đã có bảo hiểm thì bao giờ cũng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới. Và ở Việt Nam thì nghiệp vụ này cũng đã được triển khai phổ biến và rộng rãi.
Để biết cụ thể số lượng xe cơ giới tại Việt Nam hiện nay xem ở bảng sau:
Bảng 1: Số lượng xe cơ giới tham gia giao thông đường bộ tại Việt Nam hiện nay.
Chỉ tiêu
Năm Tổng số ôtô + xe máy Ôtô Xe máy
Số lượng Tốc độ tăng (%) Số lượng Tốc độ tăng (%) Số lượng Tốc độ tăng (%)
1995 3.918.935 17,6 340.779 03,3 3.578.156 19,3
1996 4.494.250 14,7 386.976 13,5 4.208.274 17,6
1997 5.244.978 16,7 417.768 07,9 4.827.210 14,7
1998 5.643.000 07,6 443.000 06,0 5.200.000 07,7
1999 6.051.000 07,2 465.000 04,9 5.586.000 07,4
2000 6.965.562 15,1 486.608 04,6 6.478.954 15,9
2001 8.916.134 28,0 557.092 14,5 8.389.042 29,5
2002 10.880.401 22,0 607.401 09,0 10.273.000 22,4
2003 12.054.000 10,8 675.000 11,1 11.379.000 10,7
2004 13.594.000 12,7 735.000 08,8 12.859.000 13,0
(Nguồn: công ty Pjico).
2. Tình hình tai nạn giao thông đường bộ tại Việt Nam.
Tai nạn giao thông nói chung và tai nạn giao thông đường bộ nói riêng đang là thách thức đối với tất cả các quốc gia trên thế gới. Hiện nay tai nạn giao thông ở Việt Nam đang gia tăng rất đáng lo ngại và cũng là mối quan tâm hàng đầu của dư luận Xã hội, của Đảng và của Chính Phủ.
Tai nạn giao thông xảy ra thường để lại hậu quả rất nặng lề và hiện này nó đang là bài toán không có lời giải đối với mạng lưới giao thông ở nước ta. Qua số liệu thống kê cho thấy số vụ tai nạn giao thông ngày một tăng cả về số lượng và quy mô. Đòi hỏi tất cả các ngành các cấp có liên quan phải sớm vào cuộc tìm ra lời giải cho bài toán này vì tai nạn giao thông làm mất đi của cải của xã hội, mất ổn định xã hội, nghiêm trọng hơn là hậu quả của nó để lại.
Số vụ tai nạn giao thông ở nước ta có chiều hướng ngày một tăng cao, năm 1995 xảy ra 15.376 vụ, đến năm 2002 số vụ tai nạn xảy ra đã gấp 1,8 lần số vụ năm 1995 (xảy ra 27.134 vụ). Riêng 2 năm trở lại đây số vụ tai nạn có chiều hướng chững lại do sự đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng và ý thức chấp hành luật lệ an toàn giao thông của người dân đã được nâng lên đáng kể. Đặc biệt năm 2003 tốc độ tăng tai nạn giao thông mang dấu âm (-28,2%) đây là dấu hiệu đáng mừng cũng do trong năm này các cơ quan chức năng đã có nhiều biện pháp nhằm hạn chế tình hình tai nạn giao thông như: giải toả chỗ lấn chiếm lòng đường vỉa hè, họp chợ trái phép cho tới những biện pháp mạnh tay như: bắn tốc độ, kiểm tra nồng độ cồn cũng trong năm này rất nhiều dự án an toàn giao thông đã được đưa vào hoạt động và có tác dụng tích cực.
Tai nạn giao thông không chỉ gia tăng về số lượng mà nguy hiểm hơn đó là quy mô của tai nạn. Từ năm 1995 số người chết do tai nạn giao thông là 5.431 đến năm 2004 con số này đã gấp 2,3 lần (số người chết do tai nạn giao thông năm 2004 là 12.644 người) trong đó không ít người là những lao động chính trong gia đình, trụ cột trong gia đình mà sự ra đi quá đột ngột của họ là một cú sốc lớn đối với gia đình đó và ngày hôm sau con em họ sẽ sống ra sao? Nguy hiểm hơn trong số những nạn nhân đó có không ít những thanh niên trẻ tuổi (nguồn lao động tương lai của đất nước) họ vừa là nạn nhân nhưng cũng đồng thời là nguyên nhân chính dẫn đến tai nạn chỉ vì một phút thiếu suy nghĩ, bồng bột, đây là điều đáng tiếc nhất mà chúng ta phải lên án và phải có những biện pháp can thiệp thích hợp ngay từ đầu trước khi tai nạn đáng tiếc xảy ra.
Quy mô của tai nạn còn được thể hiện qua số người bị thương do tai nạn giao thông. Năm 1995 có 16.921 người bị thương do tai nạn giao thông đến năm 2004 con số này đã là 21.728 người. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng quá tải ở các bệnh viện từ TW đến địa phương và trong số những người bị thương sẽ có không ít người trở thành tàn tật vĩnh viễn (người thực vật) sống dựa vào thu nhập và khả năng chăm sóc của người khác. Thiệt hại về người trong tai nạn giao thông là thiệt hại vô giá mà không ai muốn gặp phải do vậy, để hạn chế tới mức thấp nhất thiệt hại do tai nạn giao thông gây ra phụ thuộc vào ý thức và hành động của tất cả mọi người.
Để biết cụ thể tình hình tai nạn giao thông ở Việt Nam qua các năm xem ở bảng sau:
Bảng 2:Tình hình tai nạn giao thông đường bộ ở Việt Nam từ năm 1995-2004.
Chỉ tiêu
Năm Số vụ tai nạn Số người chết Số người bị thương Tỷ lệ số người chết trên 10.000 xe cơ giới
Số vụ (vụ) Tốc độ tăng (%) Số người (người) Tốc độ tăng (%) Số người (người) Tốc độ tăng (%)
1995 15.376 +17,2 5.431 +19,3 16.921 +29,5 13,8
1996 19.075 +24,0 5.581 +2,7 21.556 +27,3 12,1
1997 19.159 +0,4 5.681 +1,8 21.905 +1,6 10,8
1998 19.975 +4,3 6.067 +6,8 22.723 +3,7 10,7
1999 20.773 +3,8 6.671 +9,9 23.911 +5,2 10,9
2000 22.486 +8,5 7.501 +12,4 25.401 +6,2 10,7
2001 25.041 +11,3 10.477 +39,6 29.188 +14,9 11,7
2002 27.134 +8,3 12.801 +22,2 30.733 +5,3 11,8
2003 19.852 -28,2 11.319 -9,4 20.401 -35,2 9,4
2004 20.944 +5,5 12.644 +11,7 21.728 +6,5 9,3
(Nguồn: Công ty Pjico)
Tình hình tai nạn giao thông tăng một cách đáng lo ngại như vậy là bởi các nguyên nhân sau:
Nguyên nhân khách quan:
- Xuất pháp từ đặc điểm của xe cơ giới là có tính động cơ cao và tham gia triệt để vào quá trình vận chuyển vì vậy, xác xuất rủi ro lớn hơn các loại hình giao thông vận tải khác.
- Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, mưa nhiều, thường xuyên gặp phải hạn hán, lũ lụt, địa hình hiểm trở 3/4 diện tích là đồi núi gây khó khăn cho việc đi lại vận chuyển.
Nguyên nhân chủ quan:
- Do nhu cầu vận chuyển, đi lại cộng với giá thành xe cơ giới ngày càng hạ làm cho số lượng xe cơ giới tham gia giao thông tăng đột biến. Hiện nay cả nước có 735.000 xe ôtô và 12.859.000 xe máy. Trong đó tốc độ gia tăng của xe ôtô hàng năm là 8-9% (khoảng 50.000 chiếc/năm) còn tốc độ gia tăng của xe máy là 20-30% (khoảng 1,5- 2 triệu chiếc/năm). Sự gia tăng quá nhanh của các phương tiện cơ giới trong khi cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng kịp làm cho mật độ các phương tiện trên đường tăng lên cũng đồng nghĩa với việc tăng xác xuất gây tai nạn giao thông.
- Cơ sở hạ tầng phục vụ giao thông đường bộ trong những năm qua đã được cải thiện đáng kể nhưng vẫn chưa đáp ứng được với tốc độ gia tăng của các phương tiện nhất là tại các thành phố lớn như Hà Nội và Tp. HCM.
- Nguyên nhân trực tiếp và chủ yếu của các vụ tai nạn giao thông xuất phát từ người điều khiển phương tiện trong đó, ý thức của người điều khiển phương tiện là nguyên nhân chính. Thống kê nguyên nhân gây tai nạn giao thông của nhiều năm qua đều cho thấy từ 70- 80% các vụ tai nạn giao thông là do người tham gia giao thông không chấp hành đúng các quy định về trật tự an toàn giao thông (vi phạm tốc độ chiếm 30%, trách vượt sai quy định chiếm 21%, say rượu bia chiếm 7,3% ). Tổng số xe cơ giới đường bộ là 13.594.000 xe nhưng chỉ có 5.863.857 người có giấy phép lái xe chiếm 43,1%. Điều này cho thấy còn nhiều người không cần học luật, không cần thi giấy phép lái xe nhưng vẫn ngang nhiên điều khiển phương tiện, coi thường pháp luật.
- Ý thức nghiêm chỉnh chấp hành luật lệ giao thông của người dân Việt Nam còn kém. Hiện tượng lấn chiếm lòng đường, vỉa hè làm nơi buôn bán, kinh doanh, họp chợ xảy ra phổ biến, hiện tượng coi đường quốc lộ là sân phơi, nơi tập kết vật liệu xây dựng, nơi chơi thể thao tiềm ẩn nhiều nguy cơ dẫn đến mất an toàn giao thông.
Chương I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI VÀ TRỤC LỢI BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI.
I. THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH XE CƠ GIỚI TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY.
Xe cơ giới:
Là tất cả các loại xe tham gia giao thông trên đường bộ bằng động cơ của chính chiếc xe đó, trừ xe đạp máy.
Theo Luật giao thông đường bộ: tại Điều 3, Mục 13, 15.
Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ (sau đây gọi là xe cơ giới) gồm: xe ôtô, máy kéo, xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy và các loại xe tương tự kể cả xe cơ giới dành cho người tàn tật.
Xe máy chuyên dùng gồm xe máy thi công, xe máy nông nghiệp, lâm nghiệp có tham gia giao thông đường bộ.
1. Đặc điểm hoạt động của xe cơ giới tại Việt Nam hiện nay.
Trong quá trình hoạt động xe cơ giới có một số đặc điểm sau liên quan đến quá trình bảo hiểm:
- Số lượng đầu xe tham gia giao thông đường bộ ngày càng tăng và có những thời kỳ tăng đột biến làm cho tai nạn có những thời kỳ xảy ra ngày càng nhiều và càng nghiêm trọng. Năm 1995 số lượng ôtô là 340.779 chiếc, xe máy 3.578.156 chiếc nhưng đến năm 2004 (chỉ 10 năm sau) số lượng ôtô đã là 735.000 chiếc và xe máy 12.859.000 chiếc. Vậy chỉ trong 10 năm số lượng ôtô đã tăng 2,2 lần và số lượng xe máy đã tăng 3,6 lần.
- Xe cơ giới có tính động cơ cao, tính việt dã tốt và nó tham gia triệt để vào quá trình vận chuyển vì vậy xác xuất rủi ro là rất lớn.
- Xe cơ giới tham gia giao thông đường bộ phụ thuộc rất lớn vào cơ sở hạ tầng, thời tiết khí hậu, địa hình Năm 1995 có 112.996 km đường bộ, nhưng chỉ có 19,8% đường rải nhựa và bê tông. Cho đến năm 2004 có 127.678 km, trong đó 38% là đường rải nhựa và bê tông. Hiện nay nước ta có 109 đèo dốc nguy hiểm các loại.
- Xe cơ giới tham gia giao thông đường bộ chịu sự chi phối của một số bộ luật của quốc gia.
Do những đặc điểm trên có tính đặc thù nên ở tất cả các nước khi đã có bảo hiểm thì bao giờ cũng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới. Và ở Việt Nam thì nghiệp vụ này cũng đã được triển khai phổ biến và rộng rãi.
Để biết cụ thể số lượng xe cơ giới tại Việt Nam hiện nay xem ở bảng sau:
Bảng 1: Số lượng xe cơ giới tham gia giao thông đường bộ tại Việt Nam hiện nay.
Chỉ tiêu
Năm Tổng số ôtô + xe máy Ôtô Xe máy
Số lượng Tốc độ tăng (%) Số lượng Tốc độ tăng (%) Số lượng Tốc độ tăng (%)
1995 3.918.935 17,6 340.779 03,3 3.578.156 19,3
1996 4.494.250 14,7 386.976 13,5 4.208.274 17,6
1997 5.244.978 16,7 417.768 07,9 4.827.210 14,7
1998 5.643.000 07,6 443.000 06,0 5.200.000 07,7
1999 6.051.000 07,2 465.000 04,9 5.586.000 07,4
2000 6.965.562 15,1 486.608 04,6 6.478.954 15,9
2001 8.916.134 28,0 557.092 14,5 8.389.042 29,5
2002 10.880.401 22,0 607.401 09,0 10.273.000 22,4
2003 12.054.000 10,8 675.000 11,1 11.379.000 10,7
2004 13.594.000 12,7 735.000 08,8 12.859.000 13,0
(Nguồn: công ty Pjico).
2. Tình hình tai nạn giao thông đường bộ tại Việt Nam.
Tai nạn giao thông nói chung và tai nạn giao thông đường bộ nói riêng đang là thách thức đối với tất cả các quốc gia trên thế gới. Hiện nay tai nạn giao thông ở Việt Nam đang gia tăng rất đáng lo ngại và cũng là mối quan tâm hàng đầu của dư luận Xã hội, của Đảng và của Chính Phủ.
Tai nạn giao thông xảy ra thường để lại hậu quả rất nặng lề và hiện này nó đang là bài toán không có lời giải đối với mạng lưới giao thông ở nước ta. Qua số liệu thống kê cho thấy số vụ tai nạn giao thông ngày một tăng cả về số lượng và quy mô. Đòi hỏi tất cả các ngành các cấp có liên quan phải sớm vào cuộc tìm ra lời giải cho bài toán này vì tai nạn giao thông làm mất đi của cải của xã hội, mất ổn định xã hội, nghiêm trọng hơn là hậu quả của nó để lại.
Số vụ tai nạn giao thông ở nước ta có chiều hướng ngày một tăng cao, năm 1995 xảy ra 15.376 vụ, đến năm 2002 số vụ tai nạn xảy ra đã gấp 1,8 lần số vụ năm 1995 (xảy ra 27.134 vụ). Riêng 2 năm trở lại đây số vụ tai nạn có chiều hướng chững lại do sự đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng và ý thức chấp hành luật lệ an toàn giao thông của người dân đã được nâng lên đáng kể. Đặc biệt năm 2003 tốc độ tăng tai nạn giao thông mang dấu âm (-28,2%) đây là dấu hiệu đáng mừng cũng do trong năm này các cơ quan chức năng đã có nhiều biện pháp nhằm hạn chế tình hình tai nạn giao thông như: giải toả chỗ lấn chiếm lòng đường vỉa hè, họp chợ trái phép cho tới những biện pháp mạnh tay như: bắn tốc độ, kiểm tra nồng độ cồn cũng trong năm này rất nhiều dự án an toàn giao thông đã được đưa vào hoạt động và có tác dụng tích cực.
Tai nạn giao thông không chỉ gia tăng về số lượng mà nguy hiểm hơn đó là quy mô của tai nạn. Từ năm 1995 số người chết do tai nạn giao thông là 5.431 đến năm 2004 con số này đã gấp 2,3 lần (số người chết do tai nạn giao thông năm 2004 là 12.644 người) trong đó không ít người là những lao động chính trong gia đình, trụ cột trong gia đình mà sự ra đi quá đột ngột của họ là một cú sốc lớn đối với gia đình đó và ngày hôm sau con em họ sẽ sống ra sao? Nguy hiểm hơn trong số những nạn nhân đó có không ít những thanh niên trẻ tuổi (nguồn lao động tương lai của đất nước) họ vừa là nạn nhân nhưng cũng đồng thời là nguyên nhân chính dẫn đến tai nạn chỉ vì một phút thiếu suy nghĩ, bồng bột, đây là điều đáng tiếc nhất mà chúng ta phải lên án và phải có những biện pháp can thiệp thích hợp ngay từ đầu trước khi tai nạn đáng tiếc xảy ra.
Quy mô của tai nạn còn được thể hiện qua số người bị thương do tai nạn giao thông. Năm 1995 có 16.921 người bị thương do tai nạn giao thông đến năm 2004 con số này đã là 21.728 người. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng quá tải ở các bệnh viện từ TW đến địa phương và trong số những người bị thương sẽ có không ít người trở thành tàn tật vĩnh viễn (người thực vật) sống dựa vào thu nhập và khả năng chăm sóc của người khác. Thiệt hại về người trong tai nạn giao thông là thiệt hại vô giá mà không ai muốn gặp phải do vậy, để hạn chế tới mức thấp nhất thiệt hại do tai nạn giao thông gây ra phụ thuộc vào ý thức và hành động của tất cả mọi người.
Để biết cụ thể tình hình tai nạn giao thông ở Việt Nam qua các năm xem ở bảng sau:
Bảng 2:Tình hình tai nạn giao thông đường bộ ở Việt Nam từ năm 1995-2004.
Chỉ tiêu
Năm Số vụ tai nạn Số người chết Số người bị thương Tỷ lệ số người chết trên 10.000 xe cơ giới
Số vụ (vụ) Tốc độ tăng (%) Số người (người) Tốc độ tăng (%) Số người (người) Tốc độ tăng (%)
1995 15.376 +17,2 5.431 +19,3 16.921 +29,5 13,8
1996 19.075 +24,0 5.581 +2,7 21.556 +27,3 12,1
1997 19.159 +0,4 5.681 +1,8 21.905 +1,6 10,8
1998 19.975 +4,3 6.067 +6,8 22.723 +3,7 10,7
1999 20.773 +3,8 6.671 +9,9 23.911 +5,2 10,9
2000 22.486 +8,5 7.501 +12,4 25.401 +6,2 10,7
2001 25.041 +11,3 10.477 +39,6 29.188 +14,9 11,7
2002 27.134 +8,3 12.801 +22,2 30.733 +5,3 11,8
2003 19.852 -28,2 11.319 -9,4 20.401 -35,2 9,4
2004 20.944 +5,5 12.644 +11,7 21.728 +6,5 9,3
(Nguồn: Công ty Pjico)
Tình hình tai nạn giao thông tăng một cách đáng lo ngại như vậy là bởi các nguyên nhân sau:
Nguyên nhân khách quan:
- Xuất pháp từ đặc điểm của xe cơ giới là có tính động cơ cao và tham gia triệt để vào quá trình vận chuyển vì vậy, xác xuất rủi ro lớn hơn các loại hình giao thông vận tải khác.
- Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, mưa nhiều, thường xuyên gặp phải hạn hán, lũ lụt, địa hình hiểm trở 3/4 diện tích là đồi núi gây khó khăn cho việc đi lại vận chuyển.
Nguyên nhân chủ quan:
- Do nhu cầu vận chuyển, đi lại cộng với giá thành xe cơ giới ngày càng hạ làm cho số lượng xe cơ giới tham gia giao thông tăng đột biến. Hiện nay cả nước có 735.000 xe ôtô và 12.859.000 xe máy. Trong đó tốc độ gia tăng của xe ôtô hàng năm là 8-9% (khoảng 50.000 chiếc/năm) còn tốc độ gia tăng của xe máy là 20-30% (khoảng 1,5- 2 triệu chiếc/năm). Sự gia tăng quá nhanh của các phương tiện cơ giới trong khi cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng kịp làm cho mật độ các phương tiện trên đường tăng lên cũng đồng nghĩa với việc tăng xác xuất gây tai nạn giao thông.
- Cơ sở hạ tầng phục vụ giao thông đường bộ trong những năm qua đã được cải thiện đáng kể nhưng vẫn chưa đáp ứng được với tốc độ gia tăng của các phương tiện nhất là tại các thành phố lớn như Hà Nội và Tp. HCM.
- Nguyên nhân trực tiếp và chủ yếu của các vụ tai nạn giao thông xuất phát từ người điều khiển phương tiện trong đó, ý thức của người điều khiển phương tiện là nguyên nhân chính. Thống kê nguyên nhân gây tai nạn giao thông của nhiều năm qua đều cho thấy từ 70- 80% các vụ tai nạn giao thông là do người tham gia giao thông không chấp hành đúng các quy định về trật tự an toàn giao thông (vi phạm tốc độ chiếm 30%, trách vượt sai quy định chiếm 21%, say rượu bia chiếm 7,3% ). Tổng số xe cơ giới đường bộ là 13.594.000 xe nhưng chỉ có 5.863.857 người có giấy phép lái xe chiếm 43,1%. Điều này cho thấy còn nhiều người không cần học luật, không cần thi giấy phép lái xe nhưng vẫn ngang nhiên điều khiển phương tiện, coi thường pháp luật.
- Ý thức nghiêm chỉnh chấp hành luật lệ giao thông của người dân Việt Nam còn kém. Hiện tượng lấn chiếm lòng đường, vỉa hè làm nơi buôn bán, kinh doanh, họp chợ xảy ra phổ biến, hiện tượng coi đường quốc lộ là sân phơi, nơi tập kết vật liệu xây dựng, nơi chơi thể thao tiềm ẩn nhiều nguy cơ dẫn đến mất an toàn giao thông.