omichan
13-12-2011, 18:49
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA SEN
KHOA KINH TẾ THƯƠNG MẠI
Môn: KINH TẾ VI MÔ
Đề tài: THỊ TRƯỜNG MẠNG DI ĐỘNG
GV hướng dẫn : Ngô Quang Thành
Nhóm thực hiện : Nhan Ngọc Phương Uyên 102726
Phạm Thanh Vy 102736 Nguyễn Trọng Nghĩa 102779 Trần Thị Thanh Tuyền 102785 Nguyễn Thanh Thùy 102732
Tháng 12/2011
TRÍCH YẾUĐể hiểu được các nội dung chính của môn Kinh tế vi mô, nhóm chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu Thị trường Mạng di động để hiểu được thêm những kiến thức cơ bản liên quan đến cung, cầu, sự hình thành giá cả, thị trường, những quy luật tác động đến hành vi tiêu dùng và sản xuất. Ngoài việc hoàn thành đề án theo đúng mục tiêu đề ra, chúng tôi còn tham khảo thêm sách, báo, internet nhờ đó mà chúng tôi đã tích lũy cho mình thêm những kiến thức, kinh nghiệm làm nền tảng kiến thức cho các chuyên ngành.
MỤC LỤC
TRÍCH YẾU i (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526689)
MỤC LỤC ii (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526690)
LỜI CÁM ƠN iv (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526691)
1 NHẬP ĐỀ 1 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526692)
2 THỊ TRƯỜNG MẠNG DI ĐỘNG 2 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526693)
2.1 Đối với gói cước trả trước của Mobifone – đại diện là dịch vụ Mobicard. 2 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526694)
2.2 Sản phẩm dịch vụ gói cước trả sau của MobiFone. 5 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526695)
2.2.1 Gói cước Q-teen: Đồng hành cùng tuổi xanh. 5 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526696)
2.2.2 Gói cước Tomato- Điện thoại di động cho mọi người 7 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526697)
2.2.3 Gói cước Economy: Thân thiện và kinh tế. 7 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526698)
2.2.4 Gói cước Tourist 8 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526699)
2.2.5 Gói cước Ciao- Chào cuộc sống tươi đẹp. 8 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526700)
3 CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG CỦA NGÀNH VIỄN THÔNG 9 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526701)
3.1 Khái quát thị trường Viễn thông. 9 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526702)
3.2 Bản chất, đặc điểm của tranh chấp kết nối Viễn thông. 10 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526703)
3.2.1 Phân loại tranh chấp kết nối Viễn thông. 13 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526704)
3.2.2 Tranh chấp kết nối Viễn thông và tranh chấp thương mại thông thường. 14 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526705)
4 CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG CỦA MẠNG DI ĐỘNG 15 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526706)
4.1 Số lượng người mua và người bán. 15 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526707)
4.2 Ai là người quyết định giá trên thị trường?. 16 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526708)
4.3 Sản phẩm là đồng nhất hay khác biệt?. 17 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526709)
4.4 Mức độ quảng cáo. 18 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526710)
4.4.1 Trên internet 18 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526711)
4.4.2 Trên báo chí 18 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526712)
4.4.3 Trên tivi 19 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526713)
4.5 Khả năng gia nhập thị trường - khó và cạnh tranh cao. 20 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526714)
4.6 Cấu trúc thị trường - độc quyền nhóm 21 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526715)
5 SẢN PHẨM CÓ CẤU TRÚC TƯƠNG TỰ 23 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526716)
5.1 Khái quát thị trường Internet 23 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526717)
5.2 Phân tích cấu trúc thị trường Internet 23 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526718)
6 KẾT LUẬN 26 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526719)
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN v (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526720)
TÀI LIỆU THAM KHẢO vi (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526721)
LỜI CÁM ƠNChúng tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Thầy Ngô Quang Thành - giảng viên môn Kinh tế vi mô. Thầy đã đưa ra đề tài cho chúng tôi tìm hiểu thực tế và hỗ trợ, giúp đỡ, góp ý cho nhóm chúng tôi trong quá trình chúng tôi làm báo cáo. Những điều đó đã cung cấp cho chúng tôi những thông tin bổ ích để chúng tôi thực hiện đề án một cách tốt hơn và hoàn chỉnh hơn.
1 NHẬP ĐỀTrước sự phát triển không ngừng của thông tin điện tử, việc thông tin nhanh chống luôn được giữ trong nằm tay bạn. Các doanh nghiệp với sự mở rộng từ chính sách của chính phủ, đã dần mở ra kỷ nguyên mới về viễn thông tại Việt Nam. Từ đấy tạo nên một thị trường đa dạng và đầy hấp dẫn của ngành viễn thông nói chung, và mạng di động nói riêng. Trước sự phát triển không ngừng ấy đã tác động tích cực cho nền kinh tế nước ta. Việc tìm hiểu về thị trường mạng di động giúp chúng tôi hiểu rõ hơn về thị trường này, đồng thời áp dụng được các bài học từ kinh tế vi mô vào đề án này.
Mục tiêu báo cáo:
Ø Tìm hiểu cấu trúc thị trường viễn thông với hai sản phẩm tiêu biểu: mạng di động và internet
Ø Áp dụng các lí thuyết đã học từ môn học kinh tế vi mô vào việc phân tích thực tế.
Qua đề án này, dù hai mục tiêu ban đầu của nhóm đề ra vẫn chưa hoàn thiện lắm tuy nhiên nó đã giúp nhóm có được những bài học thực tế trong cách làm việc nhóm, nghiên cứu. Và đặc biệt là những kinh nghiệm trong các mối quan hệ tập thể.
Bố cục báo cáo: gồm 5 phần
Thị trường mạng di động
Phân tích cấu trúc thị trường ngành viễn thông
Cấu trúc thị trường của mạng di động
Sản phẩm có cấu trúc tương tự
Kết luận
Bảng mô tả công việc
Tên
Nội dung làm việc
Thanh Tuyền
Thị trường mạng di động.
Thanh Vy
Cấu trúc thị trường của ngành viễn thông và làm PowerPoint.
Thanh Thùy
Cấu trúc thị trường của ngành di động, kết luận.
Trọng Nghĩa
Sản phẩm có cấu trúc tương tự.
Phương Uyên
Thông tin các gói cước của Mobifone, tổng hợp toàn bộ thông tin và trình bày báo cáo.
THỊ TRƯỜNG MẠNG DI ĐỘNGThị trường viễn thông nói chung, và mạng di động nói riêng khá là là phổ biến và được ưa chuộng rất nhiều. Bên cạnh sự phát triển không ngừng của ngành là sự cạnh tranh giữa các nhà cung cấp. Nổi trội là các nhà cung cấp mạng di động của : Viettel, Mobifone, Vinaphone các nhà cung cấp mạng di động tạo ra nhiều dịch vụ cung ứng cho khách hàng. Nhóm chúng tôi chú trọng đến sản phẩm dịch vụ gói cước dành cho thuê bao trả trước.
1.1 Đối với gói cước trả trước của Mobifone – đại diện là dịch vụ Mobicard.
MobiFone - mạng thông tin di động chất lượng cao - một cách dễ dàng và nhanh chóng. Với MobiCard bạn có thể sử dụng tất cả những tính năng ưu việt của dịch vụ thông tin di động. MobiCard - Cách nhanh nhất để có điện thoại di động.
MobiCard là dịch vụ điện thoại di động mới cho phép bạn hoà mạng MobiFone - mạng thông tin di động chất lượng cao - một cách dễ dàng và nhanh chóng. Với MobiCard bạn có thể sử dụng tất cả những tính năng ưu việt của dịch vụ thông tin di động. MobiCard - Cách nhanh nhất để có điện thoại di động
Những lợi ích khi sử dụng dịch vụ MobiCard
· Luôn giữ được liên lạc: Với MobiCard bạn có thể sử dụng dịch vụ thông tin di động tại 63/63 tỉnh, thành phố trên toàn quốc. Bạn luôn giữ được liên lạc ở mọi lúc-mọi nơi.
· Không cước hoà mạng: Chỉ cần mua bộ trọn gói ban đầu MobiCard là bạn có thể sử dụng được dịch vụ thông tin di động mà không phải trả cước hoà mạng.
· Không cước thuê bao tháng: Bạn không phải trả cước thuê bao tháng khi sử dụng dịch vụ MobiCard.
· Không hoá đơn thanh toán cước tháng: Cước cuộc gọi sẽ được tự động trừ vào số tiền bạn có trong tài khoản, bạn không phải bận tâm đến việc kiểm tra hoá đơn hay đi thanh toán cước hàng tháng.
· Kiểm soát được số tiền sử dụng điện thoại di động: Bạn chủ động số tiền sẽ dùng cho điện thoại di động hàng tháng. Không còn tình trạng phát sinh cước ngoài ý muốn.
Mệnh giá nạp tiền đối với thuê bao MobiCard
Thuê bao MobiCard có thể nạp tiền với nhiều mệnh giá khác nhau dành cho thuê bao trả trước:
Mệnh giá nạp tiền
(đã bao gồm VAT)
Thời gian sử dụng
(ngày)
Thời hạn chờ nạp tiền
(ngày)
5.000 VND
1
10
10.000 VND
2
10
20.000 VND
4
10
30.000 VND
7
10
50.000 VND
12
10
100.000 VND
30
10
200.000 VND
70
10
300.000 VND
115
10
500.000 VND
215
10
Các quy định kèm theo:
· Thời hạn sử dụng:
o Là khoảng thời gian thuê bao trả trước có thể sử dụng tài khoản của mình để sử dụng các dịch vụ của MobiFone như gọi đi/nhận cuộc gọi; nhắn tin/nhận tin nhắn; và các dịch vụ giá trị gia tăng khác.
o Khi thuê bao trả trước nạp tiền, thời hạn sử dụng của tài khoản được cộng thêm số ngày tương ứng với mệnh giá nạp tiền.
o Thời hạn sử dụng được cộng dồn khi thuê bao trả trước nạp tiền nhiều lần.
· Thời gian chờ nạp tiền:
o Là khoảng thời gian sau khi thuê bao trả trước bị khóa 1 chiều và trước khi bị khóa 2 chiều.
o Thuê bao trả trước bị khóa 1 chiều có thể do đã sử dụng hết giá trị của tài khoản và/hoặc hết thời hạn sử dụng của thẻ mệnh giá.
o Trong thời gian chờ nạp tiền, thuê bao trả trước có thể nhận cuộc gọi và tin nhắn, không thể gọi đi, gửi tin nhắn và sử dụng các dịch vụ giá trị gia tăng khác.
o Thời gian chờ nạp tiền không được cộng dồn khi thuê bao trả trước nạp tiền.
o Sau thời gian chờ nạp tiền, nếu không nạp tiền, thuê bao di động trả trước sẽ bị khóa 2 chiều.
· Quy định này áp dụng đối với tất cả các thuê bao trả trước của MobiFone (trừ Mobi4U).
· Quy định về thời hạn giữ số và các quy định có liên quan khác đối với thuê bao di động trả trước thực hiện theo quy định hiện hành.
Bảng giá cước: Bảng cước dịch vụ MobiCard (Áp dụng từ ngày 10/08/2010), Cước thông tin (đã bao gồm VAT), Đơn vị tính cước cuộc gọi là 6 giây + 1.
Loại cước
Mức cước
Cước thông tin gọi nội mạng
1180 đồng/phút
Cước thông tin di động 6 giây đầu
118 đồng/06giây
Cước thông tin di dộng 1 giây tiếp theo
19.67 đồng/1 giây
Cước thông tin gọi liên mạng
1380 đồng/phút
Block 06 giây đầu
138 đồng/06giây
Block 01 giây tiếp theo
23,00 đồng/01giây
Cước quốc tế IDD*
Chỉ bao gồm cước IDD
Cước nhắn tin trong nước nội mạng Mobifone
290 đồng/bản tin giờ bận; 100 đồng/bản tin giờ rỗi.
Giờ rỗi: từ 1 giờ sáng đến 5 giờ sáng tất cả các ngày trong tuần (kể cả ngày lễ và chủ nhật).
Cước nhắn tin trong nước liên mạng (nhắn sang mạng khác)
350 đồng/bản tin giờ bận; 250 đồng/bản tin giờ rỗi.
Giờ rỗi: từ 1 giờ sáng đến 5 giờ sáng tất cả các ngày trong tuần (kể cả ngày lễ và chủ nhật).
Cước nhắn tin quốc tế
- Từ máy di động: 2.500đ/bản tin
- Từ MobiFone WebPortal: 1.900đ/bản tin
(Áp dụng từ 15/10/2009)
Cước gọi vào thuê bao VSAT (1’+1’)
1.200 đồng/phút
Gọi dịch vụ 1080/1088/hộp thư thông tin
Cước dịch vụ 108x
Các loại sản phẩm của Mobifone :
Q-teen
MobiQ
Mobi4U
MobiZone
1.2 Sản phẩm dịch vụ gói cước trả sau của MobiFone1.2.1 Gói cước Q-teen: Đồng hành cùng tuổi xanhQ-teen là gói cước trả trước dành cho đối tượng khách hàng là học sinh, trong độ tuổi từ 14 – 18. Với thông điệp “Đồng hành cùng tuổi xanh”, Q-teen sẽ thay MobiFone đồng hành cùng các bạn học sinh trong suốt quá trình học tập, giao lưu và xây dựng hành trang cho cuộc sống.
Các ưu đãi đặc biệt của gói cước
- Mức cước thoại và nhắn tin rẻ nhất trong số các gói cước trả trước
- Không giới hạn thời gian sử dụng
- Được đăng ký gói SMS nội mạng 3.000đ=100 SMS
- Được đăng ký tự động và miễn phí cước thuê bao gói data tốc độ cao. Mỗi tháng Mobifone tặng khách hàng 10MB lưu lượng miễn phí.
- Tặng miễn phí nhạc chuông chờ Imuzik
Điều kiện đăng ký
- Chủ thuê bao ở độ tuổi từ 14 – 18.
- Có CMND khi đi đăng ký gói cước
Điều kiện sử dụng
- Trong vòng 2 tháng (60 ngày), thuê bao phải phát sinh ít nhất 1 trong các giao dịch: nạp thẻ, phát sinh cuộc gọi đi có cước, tin nhắn đi có cước hoặc nhận cuộc gọi đến.
- Nếu trong vòng 60 ngày, thuê bao không phát sinh một trong các giao dịch trên thì thuê bao sẽ bị chặn chiều gọi đi. Để khôi phục lại chiều gọi đi, khách hàng phải nạp thêm tiền vào tài khoản.
- Thời hạn chờ nạp tiền: 10 ngày.
- Sau thời hạn chờ nạp tiền, nếu khách hàng không nạp thẻ khôi phục lại hoạt động, Mobifone sẽ thu hồi lại số.
Các chính sách khuyến mại
- Thuê bao học sinh được đăng ký gói SMS với giá 3.000đ/lần bằng cách nhắn tin tới tổng đài 170:
+ HD gửi 170: để lấy hướng dẫn về chương trình
+ SMS gửi 170: mua gói SMS
+ KT SMS gửi 170: Kiểm tra số SMS còn trong tài khoản.
- Mỗi lần đăng ký khách hàng sẽ có 100 SMS nội mạng trong tài khoản SMS, sử dụng trong 24h kể từ thời điểm đăng ký. Khách hàng có thể đăng ký nhiều lần trong ngày. Số SMS và ngày sử dụng sẽ được cộng dồn. Toàn bộ số SMS không dùng hết trong ngày sẽ bị xóa tại thời điểm sau 24h kể từ thời điểm đăng ký.
- Thuê bao được đăng ký tự động và miễn phí dịch vụ Data; 10MB dung lượng miễn phí hàng tháng được cộng kể từ tháng liền kề sau tháng kích hoạt. Nếu khách hàng không sử dụng hết 10MB sẽ không được bảo lưu sang tháng sau. Giá cước 1đ/kB vượt định mức.
- Khi khách hàng kích hoạt mới hoặc chuyển đổi từ các gói cước khác sang gói cước Hi School, hệ thống sẽ tự động đăng ký miễn phí dịch vụ nhạc chuông chờ Imuzik.
- Trong thời gian đầu cung cấp gói cước, Mobifone áp dụng chương trình khuyến mại đặc biệt, tặng 100% giá trị các thẻ nạp trong vòng 90 ngày kể từ khi kích hoạt.
- Thuê bao Q-teen được hưởng tất cả các chương trình khuyến mại khác (nếu có); ví dụ chương trình nạp thẻ cho thuê bao đang hoạt động,
Chính sách giá cước giờ thấp điểm
- Khung giờ thấp điểm: Từ 24h:00:00 giờ đến 5h:59’:59’’ tất cả các ngày trong năm (bao gồm cả 9 ngày lễ).
- Cước gọi nội mạng trong nước trong giờ thấp điểm chỉ còn 500đ/phút;
- Phần cước di động trong các cuộc gọi tính cước riêng vẫn được áp dụng chính sách giảm cước giờ thấp điểm nêu trên. Phần cước của các dịch vụ tính cước riêng được giảm theo quy định của các cước này (nếu có);
- Cuộc gọi tới mạng Quân sự 069 không được giảm cước giờ thấp điểm (ngoài chính sách giảm cước 30% đối với tất cả các cuộc gọi tới mạng Quân sự 069).
1.2.2 Gói cước Tomato- Điện thoại di động cho mọi ngườiKhông giới hạn thời gian sử dụng, với mức cước hàng tháng bằng không! Gói cước Tomato là gói cước đại chúng nhất của Viettel, đặc biệt dành cho nhóm khách hàng mong muốn sử dụng điện thoại di động nhưng ít có nhu cầu gọi, mà nghe là chủ yếu. Gói cước không giới hạn thời gian sử dụng, với mức cước hàng tháng bằng không.
Lợi ích khi sử dụng gói cước Tomato:
- Không giới hạn thời hạn thẻ => Dùng vô thời hạn đến khi tài khoản không còn tiền;
- Không cước thuê bao tháng
- Không cước hoà mạng
- Chỉ cần phát sinh 1 cuộc đến hoặc gọi đi trong vòng 2 tháng.
- Khách hàng có thể thực hiện cuộc gọi hoặc nhắn tin tại bất kỳ thời điểm nào, miễn là tài khoản >0 đồng.
1.2.3 Gói cước Economy: Thân thiện và kinh tếEconomy là gói cước trả trước đơn giản, thuận tiện và dễ sử dụng nhất của Viettel Mobile. Khác với các gói cước trả sau (Basic+, Family) và các gói trả trước khác, Gói cước Economy có cước thoại thấp, dành cho khách hàng cá nhân gọi nhiều với mức sử dụng dưới 150.000đồng/tháng.
Lợi ích khi sử dụng gói cước Economy:
- Không phải ký hợp đồng thuê bao;
- Không phải trả phí hoà mạng;
- Không phải trả cước thuê bao tháng, thuê bao ngày;
- Không phải thanh toán hoá đơn cước hàng tháng;
- Chỉ trả cước cho từng cuộc gọi;
- Giá cước thoại cực thấp;
- Sử dụng dịch vụ bất cứ lúc nào.
Mệnh giá thẻ và thời hạn thẻ:
TT
Mệnh giá thẻ
(đồng)
Thời hạn gọi
(ngày)
Thời gian chờ nạp tiền (*)(ngày)
1
50.000
12
10
2
100.000
30
10
3
200.000
70
10
4
300.000
115
10
5
500.000
215
10
1.2.4 Gói cước TouristTourist Sim là gói cước di động đầu tiên ở Việt Nam được thiết kế dành riêng cho đối tượng khách hàng là người nước ngoài đến Việt Nam công tác, du lịch, thăm bạn bè
Lợi ích khi sử dụng gói cước Tourist Sim:
- Giá cước quốc tế ưu đãi
- Không cước thuê bao tháng
- Gói cước này được cài đặt mặc định và miễn phí cước thuê bao GPRS.
- Không cước hoà mạng
1.2.5 Gói cước Ciao- Chào cuộc sống tươi đẹp
Gói cước Ciao có cước sử dụng dịch vụ giá trị gia tăng thấp, dành cho khách hàng yêu âm nhạc và khám phá công nghệ.
Lợi ích khi sử dụng gói cước Ciao:
· Tiết kiệm chi phí khi khách hàng sử dụng gói dịch vụ giá trị gia tăng gồm I-muzik và gói EDGE tốc độ cao;
· Cước MMS rẻ hơn tới 40% (300 đồng/MMS so với 500 đồng/MMS của các gói cước khác);
· Không giới hạn thời gian sử dụng tài khoản, Khách hàng chỉ bị chặn 1 chiều khi tài khoản ≤ 0 đồng.
2 CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG CỦA NGÀNH VIỄN THÔNG2.1 Khái quát thị trường Viễn thôngVới tính đặc thù nêu trên, lịch sử ngành Viễn thông trên thế giới cho thấy, ở mỗi quốc gia, vào thời kỳ đầu của sự phát triển ngành Viễn thông, thường có một chủ thể nắm giữ vị trí độc quyền và thuộc sở hữu Nhà nước.
Xu hướng mở cửa thị trường, tạo sự cạnh tranh, không chỉ giữa các thành phần, chủ thể kinh tế trong nước, mà có sự tham gia của cả các chủ thể nước ngoài đang là xu hướng phổ biến đối với các nền kinh tế, là đòi hỏi mang tính bắt buộc với các nước tham gia Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) - sân chơi thương mại lớn nhất trên toàn thế giới. Cùng với xu thế cạnh tranh mang tính tất yếu nêu trên, thị trường Viễn thông xuất hiện những DN Viễn thông mới bên cạnh những DN vốn vẫn giữ thế độc quyền trước đây. Lợi thế về vốn, kinh nghiệm quản lý - kinh doanh, thị phần và đặc biệt là hạ tầng mạng vật lý Viễn thông đã giúp cho các DN giữ thế độc quyền trước đây chuyển sang một vị thế mới mà luật pháp các nước thường định danh là: “DN Viễn thông chiếm thị phần khống chế” hay “DN có vị trí thống lĩnh thị trường”, v.v
Với mục tiêu hướng tới thị trường cạnh tranh trong lĩnh vực Viễn thông, một mặt bảo đảm lợi ích người tiêu dùng, chống sự lũng đoạn, chi phối thị trường, nâng cao năng lực kinh doanh của các DN Viễn thông, giảm thiểu chi phí chung của toàn xã hội cũng như phát huy tối đa hiệu quả sử dụng mạng lưới Viễn thông công cộng, pháp luật các nước buộc các Nhà cung cấp dịch vụ (NCCDV) độc quyền trước đây phải chia sẻ hạ tầng mạng lưới của mình cho các chủ thể mới tham gia thị trường bằng cách, cho phép họ kết nối mạng lưới, dịch vụ vào hạ tầng sẵn có của mình. Để xác nhận và tiến hành việc kết nối, các bên cùng nhau ký một thoả thuận, gọi là “Thoả thuận kết nối”. Xét dưới góc độ quản lý nhà nước, điều này là cần thiết, hợp quy luật, mang lại lợi ích lâu dài, tạo động lực phát triển nhanh và bền vững.
Tuy nhiên, các NCCDV chiếm thị phần khống chế lại không nghĩ như vậy. Việc kết nối Viễn thông dẫn đến sự chia sẻ về lợi ích. Biểu hiện cụ thể là sự chia sẻ về sử dụng mạng lưới Viễn thông, dùng chung cơ sở hạ tầng, chia sẻ khách hàng, chi phí, giá cước, trình độ quản lý, nhân lực kỹ thuật, v.v cũng đồng nghĩa với chia sẻ thị trường. “Miếng bánh Viễn thông” nay buộc phải phân chia làm nhiều phần, trong khi năng lực hạ tầng mạng không thể ngay lập tức “nhân đôi, nhân ba”, điều đó cũng có nghĩa là chất lượng dịch vụ phần nào bị giảm sút. Để bảo vệ vị thế của mình, một tình trạng phổ biến xảy ra trên thị trường giai đoạn này là các NCCDV cũ thường có những động thái nhằm ngăn cản, hạn chế bớt sự cạnh tranh của các DN mới. Vì vậy, tranh chấp luôn có nguy cơ và điều kiện để xảy ra, đặc biệt là ở những giai đoạn đầu của sự mở cửa thị trường. Thêm vào đó, ngày nay, công nghệ mới cho phép người sử dụng (NSD) có nhiều sự lựa chọn đối với các dịch vụ Viễn thông cơ bản. Một NSD thuộc DN Viễn thông này có thể dùng những thiết bị đầu cuối như: Điện thoại cố định, máy tính, điện thoại di động, v.v . để liên lạc với NSD hay khách hàng của nhà cung cấp dịch vụ khác. Chỉ có thể thực hiện được như vậy khi có sự kết nối giữa những NCCDV với nhau. Tuy nhiên, đối với các NCCDV lớn, có khả năng chi phối thị trường thì luôn nghĩ ra vô vàn lý do để từ chối, hạn chế hoặc gây khó dễ đối với yêu cầu kết nối này để giữ thị phần. Đây cũng là lý do chính khiến dẫn tới tranh chấp kết nối Viễn thông.
Như vậy, nhìn chung, điều kiện tồn tại của tranh chấp kết nối là thị trường tự do cạnh tranh, nguyên nhân cơ bản của tranh chấp kết nối Viễn thông là sự xung đột về lợi ích và vị thế trên thị trường giữa các NCCDV. Theo một tài liệu về giải quyết tranh chấp kết nối Viễn thông3, một số nguyên nhân trực tiếp, phổ biến dẫn đến tranh chấp kết nối Viễn thông được thống kê, bao gồm:
(1) Khi NCCDV chi phối thị trường không ban hành, hoặc không tiêu chuẩn hoá Thoả thuận kết nối mẫu;
(2) Khi các bên không tuân thủ về thời gian kết thúc đàm phán;
(3) Không thoả thuận được về phí kết nối;
(4) Khi chất lượng của dịch vụ kèm theo kết nối không được đảm bảo;
(5) Khi các điều khoản khác trong Thoả thuận kết nối không được tuân thủ;
(6) Bên mới gia nhập thị trường tìm cách lôi kéo khách hàng của NCCDV độc quyền thông qua những hành vi cạnh tranh không lành mạnh;
(7) NCCDV chi phối thị trường hạn chế thông tin về những khách hàng lớn, v.v .
2.2 Bản chất, đặc điểm của tranh chấp kết nối Viễn thôngĐể giành thị phần, các DN Viễn thông phải nâng cao chất lượng dịch vụ và xây dựng chính sách chăm sóc khách hàng tốt. Sự cạnh tranh này diễn ra quyết liệt, không khoan nhượng. Nhưng cũng vì quyền lợi NSD và để mở rộng hơn nữa thị trường, nhiều DN Viễn thông cũng phải tìm cách thỏa thuận, hợp tác thông qua một văn bản gọi là “Thỏa thuận kết nối”, cho phép mạng cùng dịch vụ của các bên được kết nối với nhau. Vì vậy, có thể nói, thoả thuận kết nối Viễn thông mang bản chất của hợp đồng, một dạng hợp đồng đặc biệt. Sự đặc biệt này thể hiện ở động cơ đi đến ký kết hợp đồng. Nếu như trong những hợp đồng thương mại thông thường, các bên đều mong muốn hướng đến vì cả hai đều tìm thấy lợi ích của mình trong đó, nhưng đối với thoả thuận kết nối, dường như là một dạng hợp đồng “bắt buộc”, trong đó động lực của một trong hai bên (thường là bên đang giữ vị thế độc quyền) là không rõ ràng hoặc rất yếu. Chính vì “Thỏa thuận kết nối” là một dạng hợp đồng, do vậy, tranh chấp kết nối, mang bản chất của tranh chấp hợp đồng. Hơn nữa, là tranh chấp hợp đồng kinh tế, thương mại vì: Các bên trong tranh chấp kết nối Viễn thông là những chủ thể kinh doanh; Mục đích của tranh chấp cũng chủ yếu vì mục tiêu lợi nhuận. Căn cứ vào thực tiễn, các quy định pháp lý về Viễn thông của Việt Nam và một số nước trên thế giới, tranh chấp kết nối Viễn thông có một số đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, tranh chấp kết nối Viễn thông nảy sinh trong lĩnh vực Viễn thông. Lĩnh vực Viễn thông bao gồm nhiều quan hệ khác nhau, trong đó có thể phân ra 3 nhóm cơ bản:
(1) Quan hệ giữa các chủ thể với cơ quan quản lý Viễn thông;
(2) Quan hệ giữa NSD dịch vụ với các NCCDV;
(3) Quan hệ giữa những NCCDV với nhau. Tranh chấp kết nối Viễn thông nảy sinh trực tiếp từ nhóm quan hệ thứ ba. Trong quan hệ giữa các NCCDV với nhau, quan hệ quan trọng và phổ biến nhất là quan hệ liên quan đến kết nối mạng và dịch vụ Viễn thông. Chỉ được coi là tranh chấp kết nối Viễn thông khi tranh chấp giữa các NCCDV nảy sinh từ quan hệ kết nối Viễn thông.
Thứ hai, chủ thể trong tranh chấp kết nối Viễn thông luôn là những NCCDV Viễn thông (chủ yếu là thoại cố định và di động), mặc dù, ngoài DN Viễn thông, trong lĩnh vực Viễn thông còn có NSD, chủ mạng Viễn thông dùng riêng, đại lý dịch vụ Viễn thông.v.v Hiện nay, các NCCDV Viễn thông được phân chia thành nhiều loại khác nhau và căn cứ vào tiêu chí khác nhau có thể có nhiều cách phân loại. Ví dụ: Căn cứ vào dịch vụ cung cấp, người ta chia thành DN cung cấp dịch vụ thoại, DN cung cấp dịch vụ Internet, v.v . Trong các DN cung cấp dịch vụ thoại lại được phân chia nhỏ hơn: DN thoại cố định, thoại đường dài, thoại nội hạt, thoại di động, thoại quốc tế, v.v DN cung cấp dịch vụ Internet được chia thành: DN cung cấp dịch vụ kết nối Internet, dịch vụ truy nhập Internet và dịch vụ ứng dụng Internet .v.v ; NCCDV Viễn thông cũng có thể được phân thành DN chuyên cung cấp hạ tầng mạng Viễn thông (DN được phép đầu tư phát triển mạng lưới đường truyền vật lý và cho các NCCDV khác thuê lại để cung cấp dịch vụ Viễn thông đến khách hàng) và DN chuyên cung cấp dịch vụ Viễn thông. Thông thường, trên thực tế, việc phân loại trên chỉ là tương đối. Ví dụ như Việt Nam: Một NCCDV Viễn thông thường cùng một lúc kinh doanh nhiều loại dịch vụ Viễn thông, kinh doanh và phát triển cả đường trục, cho thuê mạng lưới Viễn thông, v.v do vậy, đôi khi người ta không phân định rõ ràng khi nào NCCDV hoạt động với tư cách cung cấp dịch vụ Viễn thông, khi nào với tư cách phát triển đường trục, v.v Về cơ cấu chủ thể của tranh chấp kết nối Viễn thông, cần lưu ý: Để sử dụng được dịch vụ Viễn thông, NSD cũng phải kết nối mạng Viễn thông của mình (thường khá đơn giản như chỉ gồm vài ba chiếc máy điện thoại, hoặc vi tính) với mạng của NCCDV. Về bản chất, đây cũng là thoả thuận kết nối. Tuy nhiên, tranh chấp giữa NSD liên quan đến việc chậm kết nối, hoặc trục trặc về kỹ thuật đường truyền, cước sử dụng hay cổng kết nối, v.v không được gọi là tranh chấp kết nối Viễn thông. Pháp luật các nước và thông lệ quốc tế nhìn chung chỉ thừa nhận tranh chấp giữa các NCCDV trong quan hệ kết nối mới được coi là tranh chấp kết nối Viễn thông.
Thứ ba, về hình thức giải quyết tranh chấp kết nối Viễn thông.
Cũng giống như việc giải quyết các tranh chấp thương mại nói chung khác, hiện nay, trên thế giới tồn tại một số hình thức giải quyết tranh chấp kết nối viễn thông phổ biến như: Thương lượng, hòa giải, tòa án, trọng tài. Bốn hình thức này chia làm hai loại.
Loại thứ nhất: Tự giải quyết tranh chấp
Tự giải quyết tranh chấp là hình thức các bên trong tranh chấp tự giải quyết mà không cần có sự xuất hiện của bên thứ ba. Hình thức này thường được gọi là “Thương lượng”:
Thương lượng là hình thức giải quyết tranh chấp không có sự xuất hiện của bên thứ ba. Trong thương lượng, các bên cùng nhau trình bày quan điểm, chính kiến, bàn bạc, tìm các biện pháp thích hợp và đi đến thoả thuận thống nhất để tự giải quyết bất đồng. Thương lượng, nếu thành công sẽ đem lại hiệu quả tức thì. Tuy nhiên, thương lượng đòi hỏi các bên phải có thiện chí, trung thực, hợp tác, và phải am hiểu về chuyên môn pháp lý. Gặp vụ việc phức tạp, các bên có thể chỉ định những chuyên gia, những tổ chức có trình độ chuyên môn thay mặt và đại diện cho mình để tiến hành thương lượng.
Kết quả của quá trình thương lượng là những cam kết, thoả thuận về những giải pháp cụ thể nhằm tháo gỡ vướng mắc, bất đồng phát sinh liên quan đến kết nối. Hình thức pháp lý ghi nhận kết quả thương lượng thường thể hiện bằng biên bản. Nội dung chủ yếu của nó bao gồm: Vướng mắc chính trong kết nối; ý kiến mỗi bên; đề xuất giải pháp và cam kết thực hiện. Khi biên bản thương lượng được lập một cách hợp lệ, những thoả thuận trong biên bản thương lượng được coi là có giá trị pháp lý như hợp đồng và đương nhiên nó có ý nghĩa bắt buộc đối với các bên. Trong trường hợp kết quả thương lượng không được một bên tự giác thực hiện vì thiếu thiện chí, biên bản thương lượng sẽ được bên kia sử dụng như một chứng cứ quan trọng để xuất trình trước cơ quan tài phán, để yêu cầu các cơ quan này thừa nhận và cưỡng chế thi hành những thoả thuận nói trên.
Thương lượng là hình thức khá phổ biến, thích hợp cho việc giải quyết tranh chấp về kết nối. Hình thức này được các NCCDV ưa chuộng, vì nó đơn giản lại không bị ràng buộc bởi các thủ tục pháp lý phiền phức, ít tốn kém hơn và nói chung không làm phương hại đến các quan hệ hợp tác vốn có giữa các bên cũng như giữ được các bí mật kinh doanh. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm như vậy, việc giải quyết tranh chấp bằng hình thức này còn vướng phải một hạn chế, đó là: việc tham gia thương lượng không chỉ đòi hỏi các bên có thiện chí, trung thực, hợp tác mà còn phải có kiến thức cần thiết về chuyên môn và pháp lý, điều này không phải dễ dàng có được đối với mỗi bên tranh chấp.
Loại thứ hai: Giải quyết tranh chấp có sự tham gia của bên thứ ba
Thông qua bên thứ ba là những hình thức giải quyết tranh chấp được sử dụng nhiều nhất hiện nay, bao gồm: Hòa giải, Trọng tài, Tòa án.
Hòa giải là hình thức giải quyết tranh chấp có sự tham gia của bên thứ ba độc lập, do hai bên cùng chấp nhận hay chỉ định, làm vai trò trung gian để hỗ trợ cho các bên tìm kiếm những giải pháp thích hợp cho việc giải quyết xung đột nhằm chấm dứt tranh chấp bất hoà. Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Hòa giải là việc thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đột hay xích mích một cách ổn thoả”. Từ điển Luật học Anh-Mỹ của Black định nghĩa: “Hòa giải là một quá trình giải quyết tranh chấp mang tính riêng tư, trong đó hòa giải viên là người thứ ba trung gian giúp các bên tranh chấp đạt được một thoả thuận”.
Hòa giải là giải pháp mang tính chất tự nguyện, tuỳ thuộc vào sự lựa chọn của các bên. Bên thứ ba với tính chất là trung gian hòa giải phải có vị trí độc lập đối với các bên. Điều đó có nghĩa là, bên thứ ba này không ở vị trí xung đột lợi ích đối với các bên hoặc không có lợi ích gắn liền với lợi ích của một trong các bên liên quan đến vụ việc đang có tranh chấp. Bên thứ ba làm trung gian hòa giải thường là cá nhân, tổ chức có trình độ chuyên môn, kiến thức pháp lý và có kinh nghiệm về những vụ việc có liên quan đến những tranh chấp kết nối. Nhiệm vụ của họ là xem xét, phân tích, đánh giá và đưa ra những ý kiến, nhận định bình luận về chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ và những vấn đề khác có thể liên quan để các bên tham khảo; đề ra những giải pháp, những phương án thích hợp để các bên tham khảo, lựa chọn và quyết định. Trên thực tế, có hai hình thức hòa giải: Hòa giải ngoài tố tụng và hoà giải trong tố tụng. Hoà giải ngoài tố tụng là hình thức hoà giải thông qua người thứ ba được các bên lựa chọn giải quyết tranh chấp. Hình thức này thích hợp cho việc giải quyết tranh chấp mà ở đó, ngoài yếu tố thiện chí của các bên, còn có các vấn đề đòi hỏi chuyên môn, mà tự các bên khó có thể xem xét đánh giá chính xác, khách quan được. Hòa giải trong tố tụng là việc bên tài phán trước khi xem xét ra phán quyết yêu cầu các bên tự thoả thuận giải quyết tranh chấp như một nỗ lực, cố gắng cuối cùng trên tinh thần tôn trọng quyền tự quyết của các bên. Hòa giải trong tố tụng là một bước bắt buộc của thủ tục tố tụng. Hòa giải trong tố tụng được tiến hành tại toà án hay trọng tài khi các cơ quan này giải quyết tranh chấp theo yêu cầu của các bên.
Giải quyết tranh chấp kết nối bằng tòa án là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của cơ quan tài phán nhà nước, nhân danh quyền lực nhà nước để đưa ra phán quyết buộc các bên có nghĩa vụ thi hành, kể cả bằng sức mạnh cưỡng chế. Do đó, các bên thường tìm đến sự trợ giúp của toà án như một giải pháp cuối cùng để bảo vệ có hiệu quả các quyền, lợi ích của mình khi họ thất bại trong cơ chế thương lượng, hòa giải hoặc không muốn lựa chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp.
Có thể nói, việc giải quyết tranh chấp bằng tòa án được khẳng định là một hình thức giải quyết có trình tự tố tụng chặt chẽ và tính khả thi của hiệu lực phán quyết. Tuy nhiên, thủ tục này thường mất nhiều thời gian hơn, chi phí cao hơn so với các hình thức giải quyết tranh chấp khác. Thêm vào đó, nguyên tắc xét xử công khai tại tòa án không được giới DN đánh giá là nguyên tắc có thể bảo vệ được bí mật kinh doanh và uy tín của họ trên thương trường. Điều đó làm hạn chế khả năng lựa chọn của các DN đối với tòa án khi phát sinh tranh chấp. Cũng cần phải nói rằng, kết nối Viễn thông là một lĩnh vực liên quan mật thiết đến kiến thức kỹ thuật, công nghệ cao, do vậy, hiện nay, rất nhiều các thẩm phán không có đủ kinh nghiệm và kiến thức để giải quyết tốt vụ việc.
2.2.1 Phân loại tranh chấp kết nối Viễn thôngCăn cứ vào nội dung của vụ tranh chấp, tranh chấp kết nối Viễn thông có thể phân thành:
- Tranh chấp liên quan đến việc NCCDV chi phối thị trường không ban hành, hoặc không tiêu chuẩn hoá Thoả thuận kết nối mẫu;
- Tranh chấp khi các bên không tuân thủ về thời gian kết thúc đàm phán;
- Tranh chấp khi các bên không thoả thuận được về phí kết nối;
- Tranh chấp khi chất lượng của dịch vụ kèm theo kết nối không được đảm bảo;
- Tranh chấp khi các điều khoản khác trong Thoả thuận kết nối không được tuân thủ;
- Tranh chấp khi NCCDV chi phối thị trường hạn chế thông tin về những khách hàng lớn (thường là những NCCDV khác cùng kết nối vào mạng của NCCDV độc quyền);
Tại Việt Nam, hiện nay theo Quyết định 12/2006/QĐ-BCVT, nội dung tranh chấp thực hiện kết nối bao gồm: Tranh chấp về đăng ký kế hoạch dung lượng kết nối; Tranh chấp về ký kết Hợp đồng cung cấp dung lượng kết nối; Tranh chấp về điều chỉnh kế hoạch dung lượng kết nối; Tranh chấp về thực hiện mở rộng dung lượng kết nối; Những tranh chấp khác khi thực hiện kết nối.
Căn cứ vào chủ thể tham gia tranh chấp, có thể phân thành:
- Tranh chấp kết nối giữa DN cung cấp dịch cố định với DN cung cấp dịch vụ di động.
- Tranh chấp giữa DN di động với nhau
- Tranh chấp giữa DN cung cấp dịch vụ Viễn thông nội hạt với đường dài.
Hiện nay, tại Việt Nam, theo Quyết định 12/2006/QĐ-BCVT, căn cứ vào chủ thể, có tranh chấp giữa các DN Viễn thông kinh doanh mạng Viễn thông cố định (nội hạt, đường dài trong nước, quốc tế) và mạng Viễn thông di động (nội vùng, toàn quốc) với nhau.
2.2.2 Tranh chấp kết nối Viễn thông và tranh chấp thương mại thông thườngTranh chấp kết nối Viễn thông là trường hợp đặc biệt của tranh chấp thương mại, so với tranh chấp thương mại thông thường, tranh chấp kết nối Viễn thông có một số khác biệt cơ bản sau:
Thứ nhất, chủ thể trong tranh chấp thương mại là các thương nhân, bao gồm: Cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình có đăng ký kinh doanh hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên (Khoản 6, Điều 5 Luật Thương mại Việt Nam). Trong khi chủ thể tranh chấp kết nối Viễn thông là các DN Viễn thông, cũng là thương nhân, nhưng bao giờ cũng là pháp nhân mà không bao gồm chủ thể là cá nhân.
Thứ hai, tranh chấp kết nối Viễn thông luôn phát sinh từ thoả thuận kết nối (một dạng hợp đồng thương mại) và phát sinh ngay cả trong giai đoạn các bên chưa ký kết. Trong khi tranh chấp thương mại có thể là tranh chấp phát sinh từ hợp đồng (sau khi ký), ngoài hợp đồng hoặc hành vi vi phạm pháp luật.
Thứ ba, với tranh chấp thương mại thông thường, việc giải quyết được thực hiện thông qua hình thức thoả thuận, trọng tài, trung gian hoà giải hoặc toà án, nhưng trong tranh chấp kết nối Viễn thông, hình thức hiệp thương thông qua trung gian hoà giải của cơ quan quản lý hành chính nhà nước về Viễn thông vẫn đóng vai trò quan trọng và được thừa nhận như một trong những hình thức giải quyết phổ biến.
Thứ tư, tranh chấp thương mại có thể dẫn đến chấm dứt mối quan hệ giữa các bên (đôi khi mục tiêu của tranh chấp là để chấm dứt quan hệ). Trong khi với tranh chấp kết nối Viễn thông, quan hệ giữa các bên vẫn tiếp tục được duy trì, trong nhiều trường hợp, việc giải quyết tranh chấp mới chỉ là điểm bắt đầu của một giai đoạn quan hệ mới.
Thứ năm, trong đa số trường hợp, tranh chấp thương mại chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của các bên tham gia, nhưng trong tranh chấp kết nối Viễn thông còn ảnh hưởng tới quyền lợi của nhà nước và người tiêu dùng.
3 CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG CỦA MẠNG DI ĐỘNGGiới thiệu sản phẩm của nhóm: như đã giới thiệu như trên tại phần I, thị trường mạng di động rộng khắp với các doanh nghiệp cung cấp, và nhiều dịch vụ cung ứng. Nhưng nhóm giới hạn ở sản phẩm gói cước dành cho thuê bao trả trước với hai nhà cung cấp tiêu biểu là Mobifone, và Viettel.
3.1 Số lượng người mua và người bánTrên thị trường hiện có 11 DN được phép thiết lập hạ tầng mạng viễn thông, 8 DN cung cấp dịch vụ viễn thông di động, trong đó có 4 DN hoặc liên kết DN cung cấp dịch vụ 3G. 81 DN cung cấp dịch vụ Internet
Chất lượng và tính ổn định của mạng di động ở Việt Nam còn kém vì hơn 90% số thuê bao là thuê bao trả trước và thậm chí các hợp đồng giữa thuê bao và nhà mạng phần lớn không có kỳ hạn dài.
Chính vì thế đã dẫn đến một số lượng rất lớn các thẻ SIM không hoạt động mà vẫn còn tính vào số lượng thuê bao. Do vậy, khó có thể xác định chính xác số lượng thuê bao thực sự.
Hơn nữa, do sự cạnh tranh về giá, như qua các chiến dịch khuyến mãi giá mạnh cho các thuê bao mới, khiến một lượng lớn các thuê bao không hoạt động. Chính phủ cần hạn chế các chiến dịch khuyến mãi quá mạnh, hạn chế số lượng SIM, đăng ký thuê bao, nếu không sẽ gây thiệt hại nặng nề cho các bên tham gia trong ngành và gây nguy hiểm cho toàn ngành viễn thông. (Đánh giá của EuroCham - Phòng Công nghiệp thương mại Châu Âu tại Việt Nam tính tới thời điểm này, Việt Nam đã có 89,5 triệu thuê bao điện thoại (bao gồm cả cố định và di động), đạt mật độ 105 máy/100 dân – có nghĩa là 100% người dân Việt Nam đã có điện thoại.
Hiện ở Việt Nam đang có 7 mạng di động: VinaPhone, MobiFone, Viettel, S-Fone, EVN Telecom, HT Mobile (nay là Vietnammobile), và Gtel. Riêng với trường hợp VTC, Thủ tướng chính phủ vừa đồng ý trên nguyên tắc để công ty này thử nghiệm cung cấp dịch vụ thông tin di động không cần cấp tần số. Khi dịch vụ của VTC đi vào hoạt động, Việt Nam sẽ có tổng hợp 8 mạng di động. Còn về mạng cố định, hiện nay đang có 6 doanh nghiệp tham gia, bao gồm: VNPT, Viettel, EVN Telecom, Saigon Postel, VTC và FPT.
Hiện Viettel đang là nhà mạng có vùng phủ lớn nhất với hơn 22.000 trạm phát sóng 2G và hơn 8.000 trạm phát sóng 3G, dung lượng mạng lưới lớn đủ phục vụ cho hơn 80 triệu khách hàng.
Ngoài lợi thế về hạ tầng Viettel cũng là nhà mạng có số lượng người sử dụng đông đảo nhất lên tới gần 50 triệu thuê bao di động, thuê bao cố định, Homephone. Số lượng thuê bao nội mạng lớn giúp tỷ trọng cuộc gọi nội mạng của Viettel tăng cao.
Tất cả những ưu thế này tạo cho Viettel có một lợi thế cạnh tranh mạnh trên thị trường viễn thông Việt Nam. Điều này cũng chứng tỏ nỗ lực đem đến cho khách hàng dịch vụ tốt nhất với mức giá cả ưu đãi nhất.
Cạnh tranh bằng giá cước rẻ là cách làm quen thuộc của Viettel kể từ khi nhà mạng này xuất hiện trên thị trường viễn thông. Tâm lý “Viettel có nghĩa là giá cước rẻ” dường như đã trở thành một nhận thức được mặc định với người tiêu dùng và đây cũng là sức mạnh đã đưa nhà mạng này trở thành “đại gia” di động.
Như vậy, với những điều trên cho thấy số lượng nhà cung cấp trên thị trường là không nhiều so với số lượng khách hàng. Không những thế các nhà cung cấp dịch vụ nên chú trọng đến chất lượng, và mang thông tin tốt nhất cho khách hàng
3.2 Ai là người quyết định giá trên thị trường?Yếu tố quyết định xem ai là người quyết định giá sản phẩm thể hiện qua việc tự do cạnh tranh giá giữa các Doanh nghiệp (DN), chính điều này cho thấy việc giá của gói cước trả trước là do các nhà cung cấp quyết định.
Cạnh tranh về giá là yếu tố thứ hai đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ. Để mở rộng thị phần và thu hút KH mới, các DN đã thực hiện những chiến dịch khuyến mãi lớn. Kết quả số lượng thuê bao tăng lên rất nhanh, nhưng xuất hiện lượng thuê bao ảo đã làm cho mức độ biến động của thị trường ĐTDĐ rất lớn. Các DN gặp nhiều khó khăn trong việc quản lý thuê bao, chi phí duy trì các số ảo, sử dụng kho số không hiệu quả và nhất là khi muốn đánh giá tiềm năng thực sự của thị trường để có chiến lược phát triển lâu dài.
Việc giảm cước đã tạo một áp lực lên DN, trong khi DN cần nhanh chóng cải tiến mô hình kinh doanh, đảm bảo việc thu hồi vốn và tái đầu tư. Việc giảm giá cũng trở thành rào cản đối với các DN khác khi có ý định gia nhập thị trường viễn thông, ít nhiều dẫn đến tình trạng độc quyền trong thị trường viễn thông.
Ví dụ về mệnh giá nạp tiền của Mobifone dành cho thuê bao trả trước:
Mệnh giá nạp tiền
(đã bao gồm VAT)
Thời gian sử dụng
(ngày)
Thời hạn chờ nạp tiền
(ngày)
5.000 VND
1
10
10.000 VND
2
10
20.000 VND
4
10
30.000 VND
7
10
50.000 VND
12
10
100.000 VND
30
10
200.000 VND
70
10
300.000 VND
115
10
500.000 VND
215
10
3.3 Sản phẩm là đồng nhất hay khác biệt?Hiện nay, các mạng di động lớn ở Việt Nam đều có định hướng cạnh tranh về chất lượng dịch vụ, uy tín kinh doanh sau một thời gian cạnh tranh khốc liệt về giá trong các năm từ 2007-2009. Ở thời điểm đó, hạ giá dịch vụ thông qua khuyến mãi và giảm giá mặc dù là hành vi cạnh tranh không lành mạnh, nhưng đã tạo ra sự tăng trưởng mạnh mẽ, nhanh chóng trên thị trường di động. 3 "đại gia" của lĩnh vực này là: Mobifone, Vinaphone và Viettel chiếm khoảng 90,3% thị phần trong năm 2009 có lợi thế về vốn, kinh nghiệm, cơ sở hạ tầng tốt nhất hiện nay là rào cản rất khó để doanh nghiệp khác vượt qua, kể cả khi cạnh tranh về giá cả và chất lượng.
Nhìn chung, sản phẩm viễn thông nói chung và gói cước di động từ các doanh nghiệp có tính đồng nhất, do có những hoạt động cạnh tranh tương đối giống nhau do có quan điểm theo xu hướng chủ yếu như sau:
- Xác định ngành kinh doanh giống nhau , cố gắng vươn lên làm người dẫn đầu.
- Xác định phạm vi của sản phẩm dịch vụ giống nhau.
- Tập trung vào đối tượng là người sử dụng.
- Tập trung xây dựng chiến lược thường gắn kết vào những mối đe doạ cạnh tranh trong hiện tại và cùng thời điểm.
Tuy nhiên những hình thức bắt chước đối thủ hoặc đưa ra những sản phẩm tốt hơn một chút, giá rẻ hơn một chút sẽ không có hiệu quả. Các DN cần đánh giá lại tình hình ngành, xác lập lại những yếu tố cạnh tranh và có những cái nhìn vượt qua ranh giới hiện tại để mở ra những cơ hội mới. Sẽ không còn có chuyện một doanh nghiệp nào đó dễ dàng dẫn dắt thị trường theo hướng mình như thời gian qua. Mỗi doanh nghiệp sẽ chỉ dẫn dắt được một phân khúc người dùng nhất định. Thị trường sẽ trở nên đa chiều hơn và người sử dụng cũng đã đủ tỉnh táo để lựa chọn cho mình nhà mạng tốt nhất chứ không chỉ đơn thuần là chọn nhà mạng rẻ nhất như trước nữa. Nhưng dù gì đi nữa thì một điều chắc chắn là mạng nào thực sự hướng đến nhu cầu và lợi ích của người dùng thì mạng đó sẽ được người dùng ủng hộ.
3.4 Mức độ quảng cáo3.4.1 Trên internetMỗi mạng điện thoại di động đều có một website riêng biệt , trên mỗi website đều cập nhật thông tin về chính mạng điện thoại đó và các dịch vụ tiện ích , ví dụ như : thông tin về các gói cước , hoà mạng 3G , nhạc chờ , kết nối GPRS , thông tin khuyến mãi và các sản phẩm của mạng .
Nhìn chung , hình thức quảng cáo trên internet rất phố biến và rộng rãi , ngoài ra quảng cáo bằng hình thức này sẽ được nhiều người biết đến qua đó mỗi website của mỗi mạng điện thoại cũng được xem là một trong những dịch vụ chăm sóc khách hàng đặc biệt, nhanh chóng và tiện lợi.
Ngoài ra , đây là thời đại của thương mại điện tử , vì vậy hình thức quảng cáo qua mạng mang tính cạnh tranh cao ,và có hiệu quả hơn so với việc quảng cáo qua báo chí và trên tivi .
3.4.2 Trên báo chíNếu trước đây mạng internet chưa được phổ biến thì báo chí được xem là phương pháp quảng cáo hữu hiệu , tuy nhiên ngày nay mạng interner đã phổ biến , nên việc chọn quảng cáo trên báo chí không còn được ưu chuộng như trước nữa , phạm vi và mức độ quảng cáo thông qua báo chí cũng bị thu hẹp lại . Ngoài ra , còn do một số nguyên nhân sau :
Các tờ báo thường chỉ đọc một lần và lưu lại trong nhà trong 1 ngày
Diện tích một trang báo khá lớn và do đó những nội dụng quảng cáo khá nhỏ trông lại càng nhỏ hơn.
Bạn không biết chắc tất cả những người mua báo đều đọc nội dung quảng cao của bạn.
Quảng cáo của bạn phải cạnh tranh với nội dụng quảng cáo khác để cạnh tranh sự thu hút của đọc giả
Tất cả những nguyên nhân trên làm cho việc quảng cáo trên báo chí bị thu hẹp , chính vì vậy việc quảng cáo mạng điện thoại thông qua báo chí cũng bị thu hẹp về phạm vi và mức độ , không được các doanh nghiệp ưa chuộng nhiều về loại hình quảng cáo này.
3.4.3 Trên tiviĐại đa số các mạng điện thoại đều được quảng cao trên tivi , với những nét đặc trưng riêng biệt , âm thanh hình ảnh sống động , cùng với những câu slogan nhằm khắc sau vào tâm trí của người xem .
3.5 Khả năng gia nhập thị trường - khó và cạnh tranh caoNhìn một cách tổng quát, người tiêu dùng lựa chọn mạng di động trả trước chủ yếu dựa vào 2 yếu tố chính yếu: chất lượng sóng và giá cước cũng như các chính sách khuyến mãi.
Sự phụ thuộc vào hạ tầng mạng (chất lượng song): do các doanh nghiệp đầu ngành (Mobiphone, Vinaphone, Viettel) đã phát triển từ rất sớm, hệ thống hạ tầng mạng rất vững manh và rông khắp, các nhà mạng gia nhập sau này phải rất khó khăn và phải có tiềm lực kinh tế vững mạnh mới có thể cạnh tranh với 3 nhà mạng đầu ngành về chất lượng dịch vụ mạng.
Sự cạnh tranh về các mức giá ưu đãi và các chính sách khuyến mãi: các nhà mạng lien tục thi nhau tung ra các gói cước, các chương trình khuyến mãi cực hấp dẫn để “lấy lòng” khách hàng và dĩ nhiên nhà mạng nào tiềm lực kinh tế mạnh mới có thể chống chọi được với xu hướng này. Các chính sách này có hiệu quả mạnh hơn ở phân khúc điện thoại di động cơ bản, do người tiêu dùng sẵn sàng hi sinh nhiều hơn đòi hỏi về chất lượng sóng cho tính kinh tế.
Trên phân khúc cấu hình trung bình và cao, các nhà mạng vẫn tiếp tục có thể dùng chính sách cạnh tranh qua giá cước thấp, kết hợp với việc nâng cao hạ tầng phát sóng để thu hút thêm lượng thuê bao. Tuy vậy, sự gia tăng thị phần của nó đã chậm lại. Bên cạnh chính sách cạnh tranh qua giá cước ấy, các nhà mạng cần phải chuyển nhiều hơn sang việc khai thác dịch vụ giá trị gia tăng để mở rộng thị phần 1 cách ý ngĩa hơn.
Dẫn chứng
Hiện nay, có 7 nhà khai thác thị trường di động Việt Nam có hàng chục các gói cước khác nhau. Các hãng này liên tục đưa ra các chiêu khuyến mại, cạnh tranh nhau để thu hút khách hàng. Kiểu cạnh tranh chiếm lĩnh thị phần khá quyết liệt và chẳng ngại .dẫm đạp lên nhau
Thời gian trước các hãng Viettel, VinaPhone và MobiFone đều đã tuyên bố hướng mạng di động của mình về vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa. 3 mạng này đều có những gói cước linh hoạt để người nghèo ở thành thị, hoặc nông dân có thể dễ dàng sử dụng, chi phí hàng tháng thấp. Cùng với di động các đại gia đã tung ra các sản phẩm hấp dẫn giá cước thấp như HomePhone, Gphone và E -com.
Chỉ trong tháng 8.2009, Vinaphone đã có sáu ngày, được chia thành hai đợt cho những thuê bao trả trước khi nạp thêm tiền được tặng 100% mệnh giá thẻ cào. Nhưng chưa bằng Viettel khi tặng 130% cho thẻ cào tiếp theo hoặc 200% cho những thuê bao bị khoá hai chiều khi nạp thêm thẻ mới. Mobifone cũng không vừa khi tặng thêm 114 – 190% tuỳ theo mệnh giá thẻ cào: mệnh giá cao được tặng ít hơn mệnh giá thấp.
Các nhà mạng cũng đang đua nhau mở thêm những gói cước mới với nhiều ưu đãi hơn. Như gói Myzone của Vinaphone đã được mở rộng ra 62 tỉnh (trừ Hà Nội) để gia tăng cuộc gọi nội mạng nhưng thực chất là gia tăng số lượng thuê bao vì giá cước rẻ: 900đ/phút dành cho những cuộc gọi nội mạng.
Beeline đang làm các nhà mạng khác choáng vì gói cước Biz “Zero” dành cho cuộc gọi nội mạng: chỉ tính cước phút đầu tiên, còn miễn phí 19 phút còn lại cho giới hạn của một cuộc gọi.
Mobifone vừa có hai gói cước dành cho thuê bao trả trước Q-Teen và Q-Student được nhiều ưu đãi như giảm cước nhắn tin, cước cuộc gọi nội mạng và ngoại mạng, 3.000đ/ngày nhắn tin không hạn chế
Trong hai năm trở lại đây, các nhà mạng còn có những gói sản phẩm “máy kèm SIM”, nghĩa là khi mua máy sẽ được tặng SIM và tài khoản. Hiện nay có hai cách làm, hoặc là nhà cung cấp thiết bị và nhà mạng liên kết với nhau hoặc là nhà mạng kinh doanh trọn gói. Trên thực tế, cách làm thứ hai đang trở nên phổ biến. Cụ thể, S-fone có gói Eco. Vinaphone có gói Alo. Viettel có gói SumoSIM.
Các nhà mạng không công bố số lượng những gói trên nhưng đó cũng là cách thu hút thêm thuê bao trả trước vì giá máy và tài khoản được hưởng thấp hơn giá máy ở ngoài thị trường. Giá hấp dẫn nhất hiện nay là gói cước Eco 999 của S-fone với giá trọn bộ là 270.000đ, được tặng 3 triệu đồng cước gọi nội mạng trong ba năm (83.333đ/tháng).
3.6 Cấu trúc thị trường - độc quyền nhómVề cơ sở lý thuyết: thị trường độc quyền nhóm bao gồm các yếu tố:
ü Một số lượng nhỏ các công ty
ü Sản phẩm vừa được tiêu chuẩn hoá vừa có sự khác biệt
ü Thừa nhận tồn tại sự phụ thuộc lẫn nhau, sản phẩm có thể thay thế cho nhau
ü Khó khăn gia nhập
Hiện tại, có thể nói, thị trường viễn thông di động Việt Nam thuộc 3 nhà khai thác lớn, nắm vai trò dẫn dắt thị trường là Viettel, VinaPhone và MobiFone. Họ cùng nhau thực hiện các biện pháp như giảm giá cước, khuyến mãi nhằm mục đích tranh giành thị phần lẫn nhau và thỏa hiệp ngăn chặn bước tiến của các nhà mạng nhỏ, khiến cho các nhà mạng nhỏ như S-Fone, VN mobile, EVN Telecom, Gtel gặp khó khăn về tài chính, không còn giữ được vai trò dẫn dắt như khi mới bắt đầu bước chân vào thị trường và khó đủ sức để chạy theo cuộc chơi của 3 nhà mạng lớn. Vì lý do đó, các nhà mạng nhỏ chỉ tập trung vào những điểm mạnh và đối tượng khách hàng riêng của mình mà đứng ngoài cuộc chạy đua khuyến mãi của các đại gia. Trên thị trường di động, thời gian gần đây, việc quảng cáo, tung các chương trình khuyến mại của các mạng nhỏ không còn được rầm rộ như trước. Hiện họ vẫn còn đất để phát triển, nhưng nguy cơ bước đến chân tường có thể xảy ra trong vòng 2-3 năm nữa.
Do có ít các công ty trong một ngành độc quyền thiểu số, sản lượng của mỗi công ty chiếm một thị phần lớn trên thị trường. Do điều này, quyết định giá cả và sản lượng của mỗi công ty có tác động đáng kể lên lợi nhuận của các công ty khác. Thêm vào đó, khi ra quyết định liên quan tới giá cả hoặc sản lượng, mỗi công ty phải tính tới phản ứng của các công ty đối thủ.
ü Các công ty tiềm năng khó hoặc không thể gia nhập ngành vì có những rào chắn lối vào như: độc quyền về bằng sáng chế hay quy trình công nghệ, ưu thế về quy mô lớn, hay uy tín tiếng tăm hiện có, Ngoài ra các công ty lớn có thể tiến hành những chiến lược để ngăn chặn những công ty mới đi vào thị trường bằng cách xây dựng khả năng sản xuất còn thừa, dọa sẽ bán phá giá và làm tràn ngập thị trường sản phẩm.
ü Có thể phân các công ty độc quyền nhóm thành 2 loại vì các nhà cung cấp đóng vai trò vừa hợp tác vừa cạnh tranh:
Các công ty độc quyền nhóm hợp tác với nhau: Khi các công ty có thể thương lượng với nhau và có những hợp đồng rang buộc để đưa ra những chiến lược chung.
Các công ty độc quyền nhóm không hợp tác với nhau: Khi các công ty không liên lạc, không thương lượng với nhau, không có những hợp đồng ràng buộc mà cạnh tranh với nhau.
4 SẢN PHẨM CÓ CẤU TRÚC TƯƠNG TỰ4.1 Khái quát thị trường InternetDù dịch vụ Internet chính thức khai trương vào cuối năm 1997 nhưng từ đầu năm 1996, hạ tầng mạng Internet đã được xây dựng. Ban đầu, hạ tầng Internet Việt Nam chỉ là một hệ thống thiết bị nhỏ, được một đối tác của Tổng công ty Bưu chính-Viễn thông Việt Nam (VNPT) lúc bấy giờ (nay là Tập đoàn Bưu chính-Viễn thông Việt Nam) “tặng” thêm một dự án tổng đài dữ liệu.
Hạ tầng ban đầu ấy có tốc độ 64Kbps khi kết nối quốc tế, dung lượng chỉ đủ cho khoảng 300 người sử dụng. Khách hàng đầu tiên là những cán bộ cao cấp của các cơ quan ban ngành, sử dụng với mục đích là giới thiệu với các cấp lãnh đạo cao hơn để vận động “mở cửa” cho Internet.
Lúc đó, chỉ có một DN cung cấp hệ thống đường trục kết nối trong nước và quốc tế (IXP) là VNPT cùng bốn nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP) là VNPT, FPT, SPT và Netnam được phép kinh doanh dịch vụ này.
Năm 2002, để tạo động lực cạnh tranh, nhà nước không còn cho phép VNPT độc quyền khai thác hạ tầng kỹ thuật và cho phép thành lập các IXP khác. Quy định này đã làm thị trường Internet Việt Nam có sự đột phá mới. Giá cước ngày càng rẻ. Thủ tục ngày càng đơn giản. Từ một nhà IXP và bốn ISP thuở ban đầu, đến lúc đó, số lượng nhà kinh doanh dịch vụ Internet đang hoạt động thực tế trên thị trường gồm có bốn IXP và tám ISP. “Thời sơ khai” của Internet Việt Nam chỉ có các dịch vụ cơ bản: thư điện tử, truy cập cơ sở dữ liệu, truyền dữ liệu, truy nhập từ xa. Thì nay, các loại hình dịch vụ đã rất đa dạng và phong phú.
Năm 2003, với các quyết định cho giảm cước truy cập sử dụng Internet ngang với các quốc gia trong khu vực, thậm chí có khung cước còn rẻ hơn, đồng thời cho phép các DN tự mình áp dụng các chính sách quản lý và ấn định mức cước, số khách hàng thuê bao của các ISP tăng đột biến. VNPT tăng 258%, SPT - 255%, NetNam - 227%, Viettel - 184% và FPT - 174%. Tuy nhiên, đến nay chất lượng dịch vụ vẫn còn là nỗi khổ của khách hàng lẫn nhà cung cấp. Vấn đề chất lượng chỉ được “cải thiện” bằng thiện chí chăm sóc khách hàng của các ISP chứ chưa có một cuộc thay đổi toàn diện, mà điều dễ thấy nhất là ở tốc độ truy cập.
4.2 Phân tích cấu trúc thị trường InternetĐến nay, sau mười năm hoạt động, Internet Việt Nam đã có 16 ISP. Nhưng theo các cơ quan chức năng, chỉ có tám ISP thực sự có hàng hóa cung cấp cho thị trường, đó là VNPT, SPT, FPT, Viettel, EVN, Netnam . Để thu hút khách hàng, ngoài việc mở rộng địa bàn “phủ sóng”, các nhà cung cấp đã đưa ra nhiều dịch vụ mới như danh bạ, luyện thi trực tuyến, thông báo điểm tuyển sinh, diễn đàn trên mạng, truyền hình theo yêu cầu (Video on Demand - VOD), mở rộng hình thức kết nối không dây bằng việc tặng các hotspot cho các điểm du lịch, nhà hàng, khách sạn, trường học . như mô hình “thành phố Wi-Fi” do FPT Telecom xây dựng tại TP.HCM và Hà Nội. Tuy nhiên, theo đánh giá của Thứ trưởng Bộ Thông tin-Truyền thông Lê Nam Thắng, độ phủ và sự phong phú của các dịch vụ giá trị gia tăng của các ISP hiện nay chỉ dựa vào hệ thống mạng điện thoại công cộng là chính, còn các phương thức khác như mạng cáp quang, vệ tinh VSAT IP . tuy có nhưng chưa phổ biến.
Các ISP còn lại đang hoạt động yếu ớt hoặc chưa làm gì như Công ty Sản xuất-Kinh doanh-Xuất nhập khẩu Điện tử quận 10 (TIE), Công ty cổ phần Dịch vụ Một kết nối (OCI), Công ty Thông tin Điện tử Hàng hải, Công ty Điện tử Tin học Hóa chất (Elinco), Công ty Thanh Tâm Hầu hết các OSP cung cấp dịch vụ ứng dụng trên mạng đều là các ISP, đây cũng là điều dễ hiểu khi ta nhìn vào mục đích kinh doanh và thế mạnh của các ISP.
Đơn vị
Tổng số thuê bao quy đổỉ
Thị phần
(%)
Công ty cổ phần viễn thông Hà Nội (HPT)
643
0,01
Tổng công ty Viễn thông Quân đội (VIETTEL)
810638
16,49
Công ty cổ phần dịch vụ Một kết nối (OCI)
130309
2,65
Công ty cổ phần dịch vụ BC-VT Sài Gòn (SPT)
203540
4,14
Công ty NETNAM - Viện CNTT (NETNAM)
78345
1,59
Công ty cổ phần phát triển đầu tư công nghệ (FPT)
910791
18,53
Tập đoàn Bưu Chính Viễn Thông Việt Nam (VNPT)
2532108
51.52
Công ty SAXKD XNK điện tử Q.10 (TIE)
1035
0,02
Công ty Thông tin Viễn thông Điện lực (EVN)
247057
5,02
Tóm lại, thị trường internet có cấu trúc tương tự thị trường mạng di động. Đây là những thị trường có cấu trúc thị trường độc quyền nhóm với số lượng nhà cung cấp quá ít so với nhu cầu của khách hàng, cùng với chất lượng sản phẩm chưa cao. Và giá của các nhà cung cấp tác động lẫn nhau, dựa trên các khuyến mãi là chính. Trong đó, thị phần của VNPT chiếm trên 50%. Thị trường dù ít nhà cung cấp tuy nhiên khả năng gia nhập thị trường là không cao và gặp nhiều khó khan. Vì sản phẩm nhìn chung là đồng nhất, chỉ tạo sự khác biệt ở khâu khuyến mãi. Thêm vào đó có những nhà cung cấp chiếm thị phần khá lớn rất khó cạnh tranh; và giữa các nhà cung cấp có sự cạnh tranh và hợp tác lẫn nhau. Các nhà cung cấp lâu năm thường hợp tác cùng nhau đễ đẩy các doanh nghiệp nhỏ ra để chiếm thị phần, và họ vừa cạnh tranh nhau về khuyến mãi, về chất lượng phục vụ, về đa dạng sản phẩm để mục tiêu là giành nhiều thị phần càng tốt. Thị trường Internet và mạng di động là hai sản phẩm có cấu trúc đặc trưng cho ngành viễn thông hiện nay tại Việt Nam.
5 KẾT LUẬNQua quá trình thực hiện đề án, nhóm đã hoàn thành tương đối tốt các mục tiêu đã đề ra. Tuy bước đầu còn gặp nhiều khó khăn, nhưng nhờ tinh thần ham học hỏi nhóm đã đạt được những mục tiêu sau:
Ø Học hỏi được kỹ năng nghiên cứu và phân tích một thị trường.
Ø Ngoài ra, nhóm còn nâng cao được khả năng tìm kiếm và chắt lọc thông tin, khả năng làm việc nhóm một cách logic.
Tóm lại, do hạn chế về mặt kinh nghiệm thực tế nên nhóm chưa hoàn thành đề án này một cách hoàn hảo nhất. Vì vậy nhóm rất mong sự góp ý, đánh giá sâu sắc của Cô để nhóm nhìn thấy được những sai xót cũng nhưng những mặt hạn chế. Từ đó nhóm có thể rút ra được những kinh nghiệm, đồng thời củng cố lại kiến thức để thực hiện tốt hơn các bài báo cáo sau này.
TÀI LIỆU THAM KHẢOwww.mobifone.com.vn
www.rockstorm.vn/web/vn/promotion
www.vnpt.com.vn
www.vietteltelecom.vn
www.dientuvienthong.net
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA SEN
KHOA KINH TẾ THƯƠNG MẠI
Môn: KINH TẾ VI MÔ
Đề tài: THỊ TRƯỜNG MẠNG DI ĐỘNG
GV hướng dẫn : Ngô Quang Thành
Nhóm thực hiện : Nhan Ngọc Phương Uyên 102726
Phạm Thanh Vy 102736 Nguyễn Trọng Nghĩa 102779 Trần Thị Thanh Tuyền 102785 Nguyễn Thanh Thùy 102732
Tháng 12/2011
TRÍCH YẾUĐể hiểu được các nội dung chính của môn Kinh tế vi mô, nhóm chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu Thị trường Mạng di động để hiểu được thêm những kiến thức cơ bản liên quan đến cung, cầu, sự hình thành giá cả, thị trường, những quy luật tác động đến hành vi tiêu dùng và sản xuất. Ngoài việc hoàn thành đề án theo đúng mục tiêu đề ra, chúng tôi còn tham khảo thêm sách, báo, internet nhờ đó mà chúng tôi đã tích lũy cho mình thêm những kiến thức, kinh nghiệm làm nền tảng kiến thức cho các chuyên ngành.
MỤC LỤC
TRÍCH YẾU i (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526689)
MỤC LỤC ii (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526690)
LỜI CÁM ƠN iv (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526691)
1 NHẬP ĐỀ 1 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526692)
2 THỊ TRƯỜNG MẠNG DI ĐỘNG 2 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526693)
2.1 Đối với gói cước trả trước của Mobifone – đại diện là dịch vụ Mobicard. 2 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526694)
2.2 Sản phẩm dịch vụ gói cước trả sau của MobiFone. 5 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526695)
2.2.1 Gói cước Q-teen: Đồng hành cùng tuổi xanh. 5 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526696)
2.2.2 Gói cước Tomato- Điện thoại di động cho mọi người 7 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526697)
2.2.3 Gói cước Economy: Thân thiện và kinh tế. 7 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526698)
2.2.4 Gói cước Tourist 8 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526699)
2.2.5 Gói cước Ciao- Chào cuộc sống tươi đẹp. 8 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526700)
3 CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG CỦA NGÀNH VIỄN THÔNG 9 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526701)
3.1 Khái quát thị trường Viễn thông. 9 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526702)
3.2 Bản chất, đặc điểm của tranh chấp kết nối Viễn thông. 10 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526703)
3.2.1 Phân loại tranh chấp kết nối Viễn thông. 13 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526704)
3.2.2 Tranh chấp kết nối Viễn thông và tranh chấp thương mại thông thường. 14 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526705)
4 CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG CỦA MẠNG DI ĐỘNG 15 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526706)
4.1 Số lượng người mua và người bán. 15 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526707)
4.2 Ai là người quyết định giá trên thị trường?. 16 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526708)
4.3 Sản phẩm là đồng nhất hay khác biệt?. 17 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526709)
4.4 Mức độ quảng cáo. 18 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526710)
4.4.1 Trên internet 18 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526711)
4.4.2 Trên báo chí 18 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526712)
4.4.3 Trên tivi 19 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526713)
4.5 Khả năng gia nhập thị trường - khó và cạnh tranh cao. 20 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526714)
4.6 Cấu trúc thị trường - độc quyền nhóm 21 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526715)
5 SẢN PHẨM CÓ CẤU TRÚC TƯƠNG TỰ 23 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526716)
5.1 Khái quát thị trường Internet 23 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526717)
5.2 Phân tích cấu trúc thị trường Internet 23 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526718)
6 KẾT LUẬN 26 (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526719)
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN v (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526720)
TÀI LIỆU THAM KHẢO vi (http://www.kilobooks.com/#_Toc310526721)
LỜI CÁM ƠNChúng tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Thầy Ngô Quang Thành - giảng viên môn Kinh tế vi mô. Thầy đã đưa ra đề tài cho chúng tôi tìm hiểu thực tế và hỗ trợ, giúp đỡ, góp ý cho nhóm chúng tôi trong quá trình chúng tôi làm báo cáo. Những điều đó đã cung cấp cho chúng tôi những thông tin bổ ích để chúng tôi thực hiện đề án một cách tốt hơn và hoàn chỉnh hơn.
1 NHẬP ĐỀTrước sự phát triển không ngừng của thông tin điện tử, việc thông tin nhanh chống luôn được giữ trong nằm tay bạn. Các doanh nghiệp với sự mở rộng từ chính sách của chính phủ, đã dần mở ra kỷ nguyên mới về viễn thông tại Việt Nam. Từ đấy tạo nên một thị trường đa dạng và đầy hấp dẫn của ngành viễn thông nói chung, và mạng di động nói riêng. Trước sự phát triển không ngừng ấy đã tác động tích cực cho nền kinh tế nước ta. Việc tìm hiểu về thị trường mạng di động giúp chúng tôi hiểu rõ hơn về thị trường này, đồng thời áp dụng được các bài học từ kinh tế vi mô vào đề án này.
Mục tiêu báo cáo:
Ø Tìm hiểu cấu trúc thị trường viễn thông với hai sản phẩm tiêu biểu: mạng di động và internet
Ø Áp dụng các lí thuyết đã học từ môn học kinh tế vi mô vào việc phân tích thực tế.
Qua đề án này, dù hai mục tiêu ban đầu của nhóm đề ra vẫn chưa hoàn thiện lắm tuy nhiên nó đã giúp nhóm có được những bài học thực tế trong cách làm việc nhóm, nghiên cứu. Và đặc biệt là những kinh nghiệm trong các mối quan hệ tập thể.
Bố cục báo cáo: gồm 5 phần
Thị trường mạng di động
Phân tích cấu trúc thị trường ngành viễn thông
Cấu trúc thị trường của mạng di động
Sản phẩm có cấu trúc tương tự
Kết luận
Bảng mô tả công việc
Tên
Nội dung làm việc
Thanh Tuyền
Thị trường mạng di động.
Thanh Vy
Cấu trúc thị trường của ngành viễn thông và làm PowerPoint.
Thanh Thùy
Cấu trúc thị trường của ngành di động, kết luận.
Trọng Nghĩa
Sản phẩm có cấu trúc tương tự.
Phương Uyên
Thông tin các gói cước của Mobifone, tổng hợp toàn bộ thông tin và trình bày báo cáo.
THỊ TRƯỜNG MẠNG DI ĐỘNGThị trường viễn thông nói chung, và mạng di động nói riêng khá là là phổ biến và được ưa chuộng rất nhiều. Bên cạnh sự phát triển không ngừng của ngành là sự cạnh tranh giữa các nhà cung cấp. Nổi trội là các nhà cung cấp mạng di động của : Viettel, Mobifone, Vinaphone các nhà cung cấp mạng di động tạo ra nhiều dịch vụ cung ứng cho khách hàng. Nhóm chúng tôi chú trọng đến sản phẩm dịch vụ gói cước dành cho thuê bao trả trước.
1.1 Đối với gói cước trả trước của Mobifone – đại diện là dịch vụ Mobicard.
MobiFone - mạng thông tin di động chất lượng cao - một cách dễ dàng và nhanh chóng. Với MobiCard bạn có thể sử dụng tất cả những tính năng ưu việt của dịch vụ thông tin di động. MobiCard - Cách nhanh nhất để có điện thoại di động.
MobiCard là dịch vụ điện thoại di động mới cho phép bạn hoà mạng MobiFone - mạng thông tin di động chất lượng cao - một cách dễ dàng và nhanh chóng. Với MobiCard bạn có thể sử dụng tất cả những tính năng ưu việt của dịch vụ thông tin di động. MobiCard - Cách nhanh nhất để có điện thoại di động
Những lợi ích khi sử dụng dịch vụ MobiCard
· Luôn giữ được liên lạc: Với MobiCard bạn có thể sử dụng dịch vụ thông tin di động tại 63/63 tỉnh, thành phố trên toàn quốc. Bạn luôn giữ được liên lạc ở mọi lúc-mọi nơi.
· Không cước hoà mạng: Chỉ cần mua bộ trọn gói ban đầu MobiCard là bạn có thể sử dụng được dịch vụ thông tin di động mà không phải trả cước hoà mạng.
· Không cước thuê bao tháng: Bạn không phải trả cước thuê bao tháng khi sử dụng dịch vụ MobiCard.
· Không hoá đơn thanh toán cước tháng: Cước cuộc gọi sẽ được tự động trừ vào số tiền bạn có trong tài khoản, bạn không phải bận tâm đến việc kiểm tra hoá đơn hay đi thanh toán cước hàng tháng.
· Kiểm soát được số tiền sử dụng điện thoại di động: Bạn chủ động số tiền sẽ dùng cho điện thoại di động hàng tháng. Không còn tình trạng phát sinh cước ngoài ý muốn.
Mệnh giá nạp tiền đối với thuê bao MobiCard
Thuê bao MobiCard có thể nạp tiền với nhiều mệnh giá khác nhau dành cho thuê bao trả trước:
Mệnh giá nạp tiền
(đã bao gồm VAT)
Thời gian sử dụng
(ngày)
Thời hạn chờ nạp tiền
(ngày)
5.000 VND
1
10
10.000 VND
2
10
20.000 VND
4
10
30.000 VND
7
10
50.000 VND
12
10
100.000 VND
30
10
200.000 VND
70
10
300.000 VND
115
10
500.000 VND
215
10
Các quy định kèm theo:
· Thời hạn sử dụng:
o Là khoảng thời gian thuê bao trả trước có thể sử dụng tài khoản của mình để sử dụng các dịch vụ của MobiFone như gọi đi/nhận cuộc gọi; nhắn tin/nhận tin nhắn; và các dịch vụ giá trị gia tăng khác.
o Khi thuê bao trả trước nạp tiền, thời hạn sử dụng của tài khoản được cộng thêm số ngày tương ứng với mệnh giá nạp tiền.
o Thời hạn sử dụng được cộng dồn khi thuê bao trả trước nạp tiền nhiều lần.
· Thời gian chờ nạp tiền:
o Là khoảng thời gian sau khi thuê bao trả trước bị khóa 1 chiều và trước khi bị khóa 2 chiều.
o Thuê bao trả trước bị khóa 1 chiều có thể do đã sử dụng hết giá trị của tài khoản và/hoặc hết thời hạn sử dụng của thẻ mệnh giá.
o Trong thời gian chờ nạp tiền, thuê bao trả trước có thể nhận cuộc gọi và tin nhắn, không thể gọi đi, gửi tin nhắn và sử dụng các dịch vụ giá trị gia tăng khác.
o Thời gian chờ nạp tiền không được cộng dồn khi thuê bao trả trước nạp tiền.
o Sau thời gian chờ nạp tiền, nếu không nạp tiền, thuê bao di động trả trước sẽ bị khóa 2 chiều.
· Quy định này áp dụng đối với tất cả các thuê bao trả trước của MobiFone (trừ Mobi4U).
· Quy định về thời hạn giữ số và các quy định có liên quan khác đối với thuê bao di động trả trước thực hiện theo quy định hiện hành.
Bảng giá cước: Bảng cước dịch vụ MobiCard (Áp dụng từ ngày 10/08/2010), Cước thông tin (đã bao gồm VAT), Đơn vị tính cước cuộc gọi là 6 giây + 1.
Loại cước
Mức cước
Cước thông tin gọi nội mạng
1180 đồng/phút
Cước thông tin di động 6 giây đầu
118 đồng/06giây
Cước thông tin di dộng 1 giây tiếp theo
19.67 đồng/1 giây
Cước thông tin gọi liên mạng
1380 đồng/phút
Block 06 giây đầu
138 đồng/06giây
Block 01 giây tiếp theo
23,00 đồng/01giây
Cước quốc tế IDD*
Chỉ bao gồm cước IDD
Cước nhắn tin trong nước nội mạng Mobifone
290 đồng/bản tin giờ bận; 100 đồng/bản tin giờ rỗi.
Giờ rỗi: từ 1 giờ sáng đến 5 giờ sáng tất cả các ngày trong tuần (kể cả ngày lễ và chủ nhật).
Cước nhắn tin trong nước liên mạng (nhắn sang mạng khác)
350 đồng/bản tin giờ bận; 250 đồng/bản tin giờ rỗi.
Giờ rỗi: từ 1 giờ sáng đến 5 giờ sáng tất cả các ngày trong tuần (kể cả ngày lễ và chủ nhật).
Cước nhắn tin quốc tế
- Từ máy di động: 2.500đ/bản tin
- Từ MobiFone WebPortal: 1.900đ/bản tin
(Áp dụng từ 15/10/2009)
Cước gọi vào thuê bao VSAT (1’+1’)
1.200 đồng/phút
Gọi dịch vụ 1080/1088/hộp thư thông tin
Cước dịch vụ 108x
Các loại sản phẩm của Mobifone :
Q-teen
MobiQ
Mobi4U
MobiZone
1.2 Sản phẩm dịch vụ gói cước trả sau của MobiFone1.2.1 Gói cước Q-teen: Đồng hành cùng tuổi xanhQ-teen là gói cước trả trước dành cho đối tượng khách hàng là học sinh, trong độ tuổi từ 14 – 18. Với thông điệp “Đồng hành cùng tuổi xanh”, Q-teen sẽ thay MobiFone đồng hành cùng các bạn học sinh trong suốt quá trình học tập, giao lưu và xây dựng hành trang cho cuộc sống.
Các ưu đãi đặc biệt của gói cước
- Mức cước thoại và nhắn tin rẻ nhất trong số các gói cước trả trước
- Không giới hạn thời gian sử dụng
- Được đăng ký gói SMS nội mạng 3.000đ=100 SMS
- Được đăng ký tự động và miễn phí cước thuê bao gói data tốc độ cao. Mỗi tháng Mobifone tặng khách hàng 10MB lưu lượng miễn phí.
- Tặng miễn phí nhạc chuông chờ Imuzik
Điều kiện đăng ký
- Chủ thuê bao ở độ tuổi từ 14 – 18.
- Có CMND khi đi đăng ký gói cước
Điều kiện sử dụng
- Trong vòng 2 tháng (60 ngày), thuê bao phải phát sinh ít nhất 1 trong các giao dịch: nạp thẻ, phát sinh cuộc gọi đi có cước, tin nhắn đi có cước hoặc nhận cuộc gọi đến.
- Nếu trong vòng 60 ngày, thuê bao không phát sinh một trong các giao dịch trên thì thuê bao sẽ bị chặn chiều gọi đi. Để khôi phục lại chiều gọi đi, khách hàng phải nạp thêm tiền vào tài khoản.
- Thời hạn chờ nạp tiền: 10 ngày.
- Sau thời hạn chờ nạp tiền, nếu khách hàng không nạp thẻ khôi phục lại hoạt động, Mobifone sẽ thu hồi lại số.
Các chính sách khuyến mại
- Thuê bao học sinh được đăng ký gói SMS với giá 3.000đ/lần bằng cách nhắn tin tới tổng đài 170:
+ HD gửi 170: để lấy hướng dẫn về chương trình
+ SMS gửi 170: mua gói SMS
+ KT SMS gửi 170: Kiểm tra số SMS còn trong tài khoản.
- Mỗi lần đăng ký khách hàng sẽ có 100 SMS nội mạng trong tài khoản SMS, sử dụng trong 24h kể từ thời điểm đăng ký. Khách hàng có thể đăng ký nhiều lần trong ngày. Số SMS và ngày sử dụng sẽ được cộng dồn. Toàn bộ số SMS không dùng hết trong ngày sẽ bị xóa tại thời điểm sau 24h kể từ thời điểm đăng ký.
- Thuê bao được đăng ký tự động và miễn phí dịch vụ Data; 10MB dung lượng miễn phí hàng tháng được cộng kể từ tháng liền kề sau tháng kích hoạt. Nếu khách hàng không sử dụng hết 10MB sẽ không được bảo lưu sang tháng sau. Giá cước 1đ/kB vượt định mức.
- Khi khách hàng kích hoạt mới hoặc chuyển đổi từ các gói cước khác sang gói cước Hi School, hệ thống sẽ tự động đăng ký miễn phí dịch vụ nhạc chuông chờ Imuzik.
- Trong thời gian đầu cung cấp gói cước, Mobifone áp dụng chương trình khuyến mại đặc biệt, tặng 100% giá trị các thẻ nạp trong vòng 90 ngày kể từ khi kích hoạt.
- Thuê bao Q-teen được hưởng tất cả các chương trình khuyến mại khác (nếu có); ví dụ chương trình nạp thẻ cho thuê bao đang hoạt động,
Chính sách giá cước giờ thấp điểm
- Khung giờ thấp điểm: Từ 24h:00:00 giờ đến 5h:59’:59’’ tất cả các ngày trong năm (bao gồm cả 9 ngày lễ).
- Cước gọi nội mạng trong nước trong giờ thấp điểm chỉ còn 500đ/phút;
- Phần cước di động trong các cuộc gọi tính cước riêng vẫn được áp dụng chính sách giảm cước giờ thấp điểm nêu trên. Phần cước của các dịch vụ tính cước riêng được giảm theo quy định của các cước này (nếu có);
- Cuộc gọi tới mạng Quân sự 069 không được giảm cước giờ thấp điểm (ngoài chính sách giảm cước 30% đối với tất cả các cuộc gọi tới mạng Quân sự 069).
1.2.2 Gói cước Tomato- Điện thoại di động cho mọi ngườiKhông giới hạn thời gian sử dụng, với mức cước hàng tháng bằng không! Gói cước Tomato là gói cước đại chúng nhất của Viettel, đặc biệt dành cho nhóm khách hàng mong muốn sử dụng điện thoại di động nhưng ít có nhu cầu gọi, mà nghe là chủ yếu. Gói cước không giới hạn thời gian sử dụng, với mức cước hàng tháng bằng không.
Lợi ích khi sử dụng gói cước Tomato:
- Không giới hạn thời hạn thẻ => Dùng vô thời hạn đến khi tài khoản không còn tiền;
- Không cước thuê bao tháng
- Không cước hoà mạng
- Chỉ cần phát sinh 1 cuộc đến hoặc gọi đi trong vòng 2 tháng.
- Khách hàng có thể thực hiện cuộc gọi hoặc nhắn tin tại bất kỳ thời điểm nào, miễn là tài khoản >0 đồng.
1.2.3 Gói cước Economy: Thân thiện và kinh tếEconomy là gói cước trả trước đơn giản, thuận tiện và dễ sử dụng nhất của Viettel Mobile. Khác với các gói cước trả sau (Basic+, Family) và các gói trả trước khác, Gói cước Economy có cước thoại thấp, dành cho khách hàng cá nhân gọi nhiều với mức sử dụng dưới 150.000đồng/tháng.
Lợi ích khi sử dụng gói cước Economy:
- Không phải ký hợp đồng thuê bao;
- Không phải trả phí hoà mạng;
- Không phải trả cước thuê bao tháng, thuê bao ngày;
- Không phải thanh toán hoá đơn cước hàng tháng;
- Chỉ trả cước cho từng cuộc gọi;
- Giá cước thoại cực thấp;
- Sử dụng dịch vụ bất cứ lúc nào.
Mệnh giá thẻ và thời hạn thẻ:
TT
Mệnh giá thẻ
(đồng)
Thời hạn gọi
(ngày)
Thời gian chờ nạp tiền (*)(ngày)
1
50.000
12
10
2
100.000
30
10
3
200.000
70
10
4
300.000
115
10
5
500.000
215
10
1.2.4 Gói cước TouristTourist Sim là gói cước di động đầu tiên ở Việt Nam được thiết kế dành riêng cho đối tượng khách hàng là người nước ngoài đến Việt Nam công tác, du lịch, thăm bạn bè
Lợi ích khi sử dụng gói cước Tourist Sim:
- Giá cước quốc tế ưu đãi
- Không cước thuê bao tháng
- Gói cước này được cài đặt mặc định và miễn phí cước thuê bao GPRS.
- Không cước hoà mạng
1.2.5 Gói cước Ciao- Chào cuộc sống tươi đẹp
Gói cước Ciao có cước sử dụng dịch vụ giá trị gia tăng thấp, dành cho khách hàng yêu âm nhạc và khám phá công nghệ.
Lợi ích khi sử dụng gói cước Ciao:
· Tiết kiệm chi phí khi khách hàng sử dụng gói dịch vụ giá trị gia tăng gồm I-muzik và gói EDGE tốc độ cao;
· Cước MMS rẻ hơn tới 40% (300 đồng/MMS so với 500 đồng/MMS của các gói cước khác);
· Không giới hạn thời gian sử dụng tài khoản, Khách hàng chỉ bị chặn 1 chiều khi tài khoản ≤ 0 đồng.
2 CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG CỦA NGÀNH VIỄN THÔNG2.1 Khái quát thị trường Viễn thôngVới tính đặc thù nêu trên, lịch sử ngành Viễn thông trên thế giới cho thấy, ở mỗi quốc gia, vào thời kỳ đầu của sự phát triển ngành Viễn thông, thường có một chủ thể nắm giữ vị trí độc quyền và thuộc sở hữu Nhà nước.
Xu hướng mở cửa thị trường, tạo sự cạnh tranh, không chỉ giữa các thành phần, chủ thể kinh tế trong nước, mà có sự tham gia của cả các chủ thể nước ngoài đang là xu hướng phổ biến đối với các nền kinh tế, là đòi hỏi mang tính bắt buộc với các nước tham gia Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) - sân chơi thương mại lớn nhất trên toàn thế giới. Cùng với xu thế cạnh tranh mang tính tất yếu nêu trên, thị trường Viễn thông xuất hiện những DN Viễn thông mới bên cạnh những DN vốn vẫn giữ thế độc quyền trước đây. Lợi thế về vốn, kinh nghiệm quản lý - kinh doanh, thị phần và đặc biệt là hạ tầng mạng vật lý Viễn thông đã giúp cho các DN giữ thế độc quyền trước đây chuyển sang một vị thế mới mà luật pháp các nước thường định danh là: “DN Viễn thông chiếm thị phần khống chế” hay “DN có vị trí thống lĩnh thị trường”, v.v
Với mục tiêu hướng tới thị trường cạnh tranh trong lĩnh vực Viễn thông, một mặt bảo đảm lợi ích người tiêu dùng, chống sự lũng đoạn, chi phối thị trường, nâng cao năng lực kinh doanh của các DN Viễn thông, giảm thiểu chi phí chung của toàn xã hội cũng như phát huy tối đa hiệu quả sử dụng mạng lưới Viễn thông công cộng, pháp luật các nước buộc các Nhà cung cấp dịch vụ (NCCDV) độc quyền trước đây phải chia sẻ hạ tầng mạng lưới của mình cho các chủ thể mới tham gia thị trường bằng cách, cho phép họ kết nối mạng lưới, dịch vụ vào hạ tầng sẵn có của mình. Để xác nhận và tiến hành việc kết nối, các bên cùng nhau ký một thoả thuận, gọi là “Thoả thuận kết nối”. Xét dưới góc độ quản lý nhà nước, điều này là cần thiết, hợp quy luật, mang lại lợi ích lâu dài, tạo động lực phát triển nhanh và bền vững.
Tuy nhiên, các NCCDV chiếm thị phần khống chế lại không nghĩ như vậy. Việc kết nối Viễn thông dẫn đến sự chia sẻ về lợi ích. Biểu hiện cụ thể là sự chia sẻ về sử dụng mạng lưới Viễn thông, dùng chung cơ sở hạ tầng, chia sẻ khách hàng, chi phí, giá cước, trình độ quản lý, nhân lực kỹ thuật, v.v cũng đồng nghĩa với chia sẻ thị trường. “Miếng bánh Viễn thông” nay buộc phải phân chia làm nhiều phần, trong khi năng lực hạ tầng mạng không thể ngay lập tức “nhân đôi, nhân ba”, điều đó cũng có nghĩa là chất lượng dịch vụ phần nào bị giảm sút. Để bảo vệ vị thế của mình, một tình trạng phổ biến xảy ra trên thị trường giai đoạn này là các NCCDV cũ thường có những động thái nhằm ngăn cản, hạn chế bớt sự cạnh tranh của các DN mới. Vì vậy, tranh chấp luôn có nguy cơ và điều kiện để xảy ra, đặc biệt là ở những giai đoạn đầu của sự mở cửa thị trường. Thêm vào đó, ngày nay, công nghệ mới cho phép người sử dụng (NSD) có nhiều sự lựa chọn đối với các dịch vụ Viễn thông cơ bản. Một NSD thuộc DN Viễn thông này có thể dùng những thiết bị đầu cuối như: Điện thoại cố định, máy tính, điện thoại di động, v.v . để liên lạc với NSD hay khách hàng của nhà cung cấp dịch vụ khác. Chỉ có thể thực hiện được như vậy khi có sự kết nối giữa những NCCDV với nhau. Tuy nhiên, đối với các NCCDV lớn, có khả năng chi phối thị trường thì luôn nghĩ ra vô vàn lý do để từ chối, hạn chế hoặc gây khó dễ đối với yêu cầu kết nối này để giữ thị phần. Đây cũng là lý do chính khiến dẫn tới tranh chấp kết nối Viễn thông.
Như vậy, nhìn chung, điều kiện tồn tại của tranh chấp kết nối là thị trường tự do cạnh tranh, nguyên nhân cơ bản của tranh chấp kết nối Viễn thông là sự xung đột về lợi ích và vị thế trên thị trường giữa các NCCDV. Theo một tài liệu về giải quyết tranh chấp kết nối Viễn thông3, một số nguyên nhân trực tiếp, phổ biến dẫn đến tranh chấp kết nối Viễn thông được thống kê, bao gồm:
(1) Khi NCCDV chi phối thị trường không ban hành, hoặc không tiêu chuẩn hoá Thoả thuận kết nối mẫu;
(2) Khi các bên không tuân thủ về thời gian kết thúc đàm phán;
(3) Không thoả thuận được về phí kết nối;
(4) Khi chất lượng của dịch vụ kèm theo kết nối không được đảm bảo;
(5) Khi các điều khoản khác trong Thoả thuận kết nối không được tuân thủ;
(6) Bên mới gia nhập thị trường tìm cách lôi kéo khách hàng của NCCDV độc quyền thông qua những hành vi cạnh tranh không lành mạnh;
(7) NCCDV chi phối thị trường hạn chế thông tin về những khách hàng lớn, v.v .
2.2 Bản chất, đặc điểm của tranh chấp kết nối Viễn thôngĐể giành thị phần, các DN Viễn thông phải nâng cao chất lượng dịch vụ và xây dựng chính sách chăm sóc khách hàng tốt. Sự cạnh tranh này diễn ra quyết liệt, không khoan nhượng. Nhưng cũng vì quyền lợi NSD và để mở rộng hơn nữa thị trường, nhiều DN Viễn thông cũng phải tìm cách thỏa thuận, hợp tác thông qua một văn bản gọi là “Thỏa thuận kết nối”, cho phép mạng cùng dịch vụ của các bên được kết nối với nhau. Vì vậy, có thể nói, thoả thuận kết nối Viễn thông mang bản chất của hợp đồng, một dạng hợp đồng đặc biệt. Sự đặc biệt này thể hiện ở động cơ đi đến ký kết hợp đồng. Nếu như trong những hợp đồng thương mại thông thường, các bên đều mong muốn hướng đến vì cả hai đều tìm thấy lợi ích của mình trong đó, nhưng đối với thoả thuận kết nối, dường như là một dạng hợp đồng “bắt buộc”, trong đó động lực của một trong hai bên (thường là bên đang giữ vị thế độc quyền) là không rõ ràng hoặc rất yếu. Chính vì “Thỏa thuận kết nối” là một dạng hợp đồng, do vậy, tranh chấp kết nối, mang bản chất của tranh chấp hợp đồng. Hơn nữa, là tranh chấp hợp đồng kinh tế, thương mại vì: Các bên trong tranh chấp kết nối Viễn thông là những chủ thể kinh doanh; Mục đích của tranh chấp cũng chủ yếu vì mục tiêu lợi nhuận. Căn cứ vào thực tiễn, các quy định pháp lý về Viễn thông của Việt Nam và một số nước trên thế giới, tranh chấp kết nối Viễn thông có một số đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, tranh chấp kết nối Viễn thông nảy sinh trong lĩnh vực Viễn thông. Lĩnh vực Viễn thông bao gồm nhiều quan hệ khác nhau, trong đó có thể phân ra 3 nhóm cơ bản:
(1) Quan hệ giữa các chủ thể với cơ quan quản lý Viễn thông;
(2) Quan hệ giữa NSD dịch vụ với các NCCDV;
(3) Quan hệ giữa những NCCDV với nhau. Tranh chấp kết nối Viễn thông nảy sinh trực tiếp từ nhóm quan hệ thứ ba. Trong quan hệ giữa các NCCDV với nhau, quan hệ quan trọng và phổ biến nhất là quan hệ liên quan đến kết nối mạng và dịch vụ Viễn thông. Chỉ được coi là tranh chấp kết nối Viễn thông khi tranh chấp giữa các NCCDV nảy sinh từ quan hệ kết nối Viễn thông.
Thứ hai, chủ thể trong tranh chấp kết nối Viễn thông luôn là những NCCDV Viễn thông (chủ yếu là thoại cố định và di động), mặc dù, ngoài DN Viễn thông, trong lĩnh vực Viễn thông còn có NSD, chủ mạng Viễn thông dùng riêng, đại lý dịch vụ Viễn thông.v.v Hiện nay, các NCCDV Viễn thông được phân chia thành nhiều loại khác nhau và căn cứ vào tiêu chí khác nhau có thể có nhiều cách phân loại. Ví dụ: Căn cứ vào dịch vụ cung cấp, người ta chia thành DN cung cấp dịch vụ thoại, DN cung cấp dịch vụ Internet, v.v . Trong các DN cung cấp dịch vụ thoại lại được phân chia nhỏ hơn: DN thoại cố định, thoại đường dài, thoại nội hạt, thoại di động, thoại quốc tế, v.v DN cung cấp dịch vụ Internet được chia thành: DN cung cấp dịch vụ kết nối Internet, dịch vụ truy nhập Internet và dịch vụ ứng dụng Internet .v.v ; NCCDV Viễn thông cũng có thể được phân thành DN chuyên cung cấp hạ tầng mạng Viễn thông (DN được phép đầu tư phát triển mạng lưới đường truyền vật lý và cho các NCCDV khác thuê lại để cung cấp dịch vụ Viễn thông đến khách hàng) và DN chuyên cung cấp dịch vụ Viễn thông. Thông thường, trên thực tế, việc phân loại trên chỉ là tương đối. Ví dụ như Việt Nam: Một NCCDV Viễn thông thường cùng một lúc kinh doanh nhiều loại dịch vụ Viễn thông, kinh doanh và phát triển cả đường trục, cho thuê mạng lưới Viễn thông, v.v do vậy, đôi khi người ta không phân định rõ ràng khi nào NCCDV hoạt động với tư cách cung cấp dịch vụ Viễn thông, khi nào với tư cách phát triển đường trục, v.v Về cơ cấu chủ thể của tranh chấp kết nối Viễn thông, cần lưu ý: Để sử dụng được dịch vụ Viễn thông, NSD cũng phải kết nối mạng Viễn thông của mình (thường khá đơn giản như chỉ gồm vài ba chiếc máy điện thoại, hoặc vi tính) với mạng của NCCDV. Về bản chất, đây cũng là thoả thuận kết nối. Tuy nhiên, tranh chấp giữa NSD liên quan đến việc chậm kết nối, hoặc trục trặc về kỹ thuật đường truyền, cước sử dụng hay cổng kết nối, v.v không được gọi là tranh chấp kết nối Viễn thông. Pháp luật các nước và thông lệ quốc tế nhìn chung chỉ thừa nhận tranh chấp giữa các NCCDV trong quan hệ kết nối mới được coi là tranh chấp kết nối Viễn thông.
Thứ ba, về hình thức giải quyết tranh chấp kết nối Viễn thông.
Cũng giống như việc giải quyết các tranh chấp thương mại nói chung khác, hiện nay, trên thế giới tồn tại một số hình thức giải quyết tranh chấp kết nối viễn thông phổ biến như: Thương lượng, hòa giải, tòa án, trọng tài. Bốn hình thức này chia làm hai loại.
Loại thứ nhất: Tự giải quyết tranh chấp
Tự giải quyết tranh chấp là hình thức các bên trong tranh chấp tự giải quyết mà không cần có sự xuất hiện của bên thứ ba. Hình thức này thường được gọi là “Thương lượng”:
Thương lượng là hình thức giải quyết tranh chấp không có sự xuất hiện của bên thứ ba. Trong thương lượng, các bên cùng nhau trình bày quan điểm, chính kiến, bàn bạc, tìm các biện pháp thích hợp và đi đến thoả thuận thống nhất để tự giải quyết bất đồng. Thương lượng, nếu thành công sẽ đem lại hiệu quả tức thì. Tuy nhiên, thương lượng đòi hỏi các bên phải có thiện chí, trung thực, hợp tác, và phải am hiểu về chuyên môn pháp lý. Gặp vụ việc phức tạp, các bên có thể chỉ định những chuyên gia, những tổ chức có trình độ chuyên môn thay mặt và đại diện cho mình để tiến hành thương lượng.
Kết quả của quá trình thương lượng là những cam kết, thoả thuận về những giải pháp cụ thể nhằm tháo gỡ vướng mắc, bất đồng phát sinh liên quan đến kết nối. Hình thức pháp lý ghi nhận kết quả thương lượng thường thể hiện bằng biên bản. Nội dung chủ yếu của nó bao gồm: Vướng mắc chính trong kết nối; ý kiến mỗi bên; đề xuất giải pháp và cam kết thực hiện. Khi biên bản thương lượng được lập một cách hợp lệ, những thoả thuận trong biên bản thương lượng được coi là có giá trị pháp lý như hợp đồng và đương nhiên nó có ý nghĩa bắt buộc đối với các bên. Trong trường hợp kết quả thương lượng không được một bên tự giác thực hiện vì thiếu thiện chí, biên bản thương lượng sẽ được bên kia sử dụng như một chứng cứ quan trọng để xuất trình trước cơ quan tài phán, để yêu cầu các cơ quan này thừa nhận và cưỡng chế thi hành những thoả thuận nói trên.
Thương lượng là hình thức khá phổ biến, thích hợp cho việc giải quyết tranh chấp về kết nối. Hình thức này được các NCCDV ưa chuộng, vì nó đơn giản lại không bị ràng buộc bởi các thủ tục pháp lý phiền phức, ít tốn kém hơn và nói chung không làm phương hại đến các quan hệ hợp tác vốn có giữa các bên cũng như giữ được các bí mật kinh doanh. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm như vậy, việc giải quyết tranh chấp bằng hình thức này còn vướng phải một hạn chế, đó là: việc tham gia thương lượng không chỉ đòi hỏi các bên có thiện chí, trung thực, hợp tác mà còn phải có kiến thức cần thiết về chuyên môn và pháp lý, điều này không phải dễ dàng có được đối với mỗi bên tranh chấp.
Loại thứ hai: Giải quyết tranh chấp có sự tham gia của bên thứ ba
Thông qua bên thứ ba là những hình thức giải quyết tranh chấp được sử dụng nhiều nhất hiện nay, bao gồm: Hòa giải, Trọng tài, Tòa án.
Hòa giải là hình thức giải quyết tranh chấp có sự tham gia của bên thứ ba độc lập, do hai bên cùng chấp nhận hay chỉ định, làm vai trò trung gian để hỗ trợ cho các bên tìm kiếm những giải pháp thích hợp cho việc giải quyết xung đột nhằm chấm dứt tranh chấp bất hoà. Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Hòa giải là việc thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đột hay xích mích một cách ổn thoả”. Từ điển Luật học Anh-Mỹ của Black định nghĩa: “Hòa giải là một quá trình giải quyết tranh chấp mang tính riêng tư, trong đó hòa giải viên là người thứ ba trung gian giúp các bên tranh chấp đạt được một thoả thuận”.
Hòa giải là giải pháp mang tính chất tự nguyện, tuỳ thuộc vào sự lựa chọn của các bên. Bên thứ ba với tính chất là trung gian hòa giải phải có vị trí độc lập đối với các bên. Điều đó có nghĩa là, bên thứ ba này không ở vị trí xung đột lợi ích đối với các bên hoặc không có lợi ích gắn liền với lợi ích của một trong các bên liên quan đến vụ việc đang có tranh chấp. Bên thứ ba làm trung gian hòa giải thường là cá nhân, tổ chức có trình độ chuyên môn, kiến thức pháp lý và có kinh nghiệm về những vụ việc có liên quan đến những tranh chấp kết nối. Nhiệm vụ của họ là xem xét, phân tích, đánh giá và đưa ra những ý kiến, nhận định bình luận về chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ và những vấn đề khác có thể liên quan để các bên tham khảo; đề ra những giải pháp, những phương án thích hợp để các bên tham khảo, lựa chọn và quyết định. Trên thực tế, có hai hình thức hòa giải: Hòa giải ngoài tố tụng và hoà giải trong tố tụng. Hoà giải ngoài tố tụng là hình thức hoà giải thông qua người thứ ba được các bên lựa chọn giải quyết tranh chấp. Hình thức này thích hợp cho việc giải quyết tranh chấp mà ở đó, ngoài yếu tố thiện chí của các bên, còn có các vấn đề đòi hỏi chuyên môn, mà tự các bên khó có thể xem xét đánh giá chính xác, khách quan được. Hòa giải trong tố tụng là việc bên tài phán trước khi xem xét ra phán quyết yêu cầu các bên tự thoả thuận giải quyết tranh chấp như một nỗ lực, cố gắng cuối cùng trên tinh thần tôn trọng quyền tự quyết của các bên. Hòa giải trong tố tụng là một bước bắt buộc của thủ tục tố tụng. Hòa giải trong tố tụng được tiến hành tại toà án hay trọng tài khi các cơ quan này giải quyết tranh chấp theo yêu cầu của các bên.
Giải quyết tranh chấp kết nối bằng tòa án là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của cơ quan tài phán nhà nước, nhân danh quyền lực nhà nước để đưa ra phán quyết buộc các bên có nghĩa vụ thi hành, kể cả bằng sức mạnh cưỡng chế. Do đó, các bên thường tìm đến sự trợ giúp của toà án như một giải pháp cuối cùng để bảo vệ có hiệu quả các quyền, lợi ích của mình khi họ thất bại trong cơ chế thương lượng, hòa giải hoặc không muốn lựa chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp.
Có thể nói, việc giải quyết tranh chấp bằng tòa án được khẳng định là một hình thức giải quyết có trình tự tố tụng chặt chẽ và tính khả thi của hiệu lực phán quyết. Tuy nhiên, thủ tục này thường mất nhiều thời gian hơn, chi phí cao hơn so với các hình thức giải quyết tranh chấp khác. Thêm vào đó, nguyên tắc xét xử công khai tại tòa án không được giới DN đánh giá là nguyên tắc có thể bảo vệ được bí mật kinh doanh và uy tín của họ trên thương trường. Điều đó làm hạn chế khả năng lựa chọn của các DN đối với tòa án khi phát sinh tranh chấp. Cũng cần phải nói rằng, kết nối Viễn thông là một lĩnh vực liên quan mật thiết đến kiến thức kỹ thuật, công nghệ cao, do vậy, hiện nay, rất nhiều các thẩm phán không có đủ kinh nghiệm và kiến thức để giải quyết tốt vụ việc.
2.2.1 Phân loại tranh chấp kết nối Viễn thôngCăn cứ vào nội dung của vụ tranh chấp, tranh chấp kết nối Viễn thông có thể phân thành:
- Tranh chấp liên quan đến việc NCCDV chi phối thị trường không ban hành, hoặc không tiêu chuẩn hoá Thoả thuận kết nối mẫu;
- Tranh chấp khi các bên không tuân thủ về thời gian kết thúc đàm phán;
- Tranh chấp khi các bên không thoả thuận được về phí kết nối;
- Tranh chấp khi chất lượng của dịch vụ kèm theo kết nối không được đảm bảo;
- Tranh chấp khi các điều khoản khác trong Thoả thuận kết nối không được tuân thủ;
- Tranh chấp khi NCCDV chi phối thị trường hạn chế thông tin về những khách hàng lớn (thường là những NCCDV khác cùng kết nối vào mạng của NCCDV độc quyền);
Tại Việt Nam, hiện nay theo Quyết định 12/2006/QĐ-BCVT, nội dung tranh chấp thực hiện kết nối bao gồm: Tranh chấp về đăng ký kế hoạch dung lượng kết nối; Tranh chấp về ký kết Hợp đồng cung cấp dung lượng kết nối; Tranh chấp về điều chỉnh kế hoạch dung lượng kết nối; Tranh chấp về thực hiện mở rộng dung lượng kết nối; Những tranh chấp khác khi thực hiện kết nối.
Căn cứ vào chủ thể tham gia tranh chấp, có thể phân thành:
- Tranh chấp kết nối giữa DN cung cấp dịch cố định với DN cung cấp dịch vụ di động.
- Tranh chấp giữa DN di động với nhau
- Tranh chấp giữa DN cung cấp dịch vụ Viễn thông nội hạt với đường dài.
Hiện nay, tại Việt Nam, theo Quyết định 12/2006/QĐ-BCVT, căn cứ vào chủ thể, có tranh chấp giữa các DN Viễn thông kinh doanh mạng Viễn thông cố định (nội hạt, đường dài trong nước, quốc tế) và mạng Viễn thông di động (nội vùng, toàn quốc) với nhau.
2.2.2 Tranh chấp kết nối Viễn thông và tranh chấp thương mại thông thườngTranh chấp kết nối Viễn thông là trường hợp đặc biệt của tranh chấp thương mại, so với tranh chấp thương mại thông thường, tranh chấp kết nối Viễn thông có một số khác biệt cơ bản sau:
Thứ nhất, chủ thể trong tranh chấp thương mại là các thương nhân, bao gồm: Cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình có đăng ký kinh doanh hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên (Khoản 6, Điều 5 Luật Thương mại Việt Nam). Trong khi chủ thể tranh chấp kết nối Viễn thông là các DN Viễn thông, cũng là thương nhân, nhưng bao giờ cũng là pháp nhân mà không bao gồm chủ thể là cá nhân.
Thứ hai, tranh chấp kết nối Viễn thông luôn phát sinh từ thoả thuận kết nối (một dạng hợp đồng thương mại) và phát sinh ngay cả trong giai đoạn các bên chưa ký kết. Trong khi tranh chấp thương mại có thể là tranh chấp phát sinh từ hợp đồng (sau khi ký), ngoài hợp đồng hoặc hành vi vi phạm pháp luật.
Thứ ba, với tranh chấp thương mại thông thường, việc giải quyết được thực hiện thông qua hình thức thoả thuận, trọng tài, trung gian hoà giải hoặc toà án, nhưng trong tranh chấp kết nối Viễn thông, hình thức hiệp thương thông qua trung gian hoà giải của cơ quan quản lý hành chính nhà nước về Viễn thông vẫn đóng vai trò quan trọng và được thừa nhận như một trong những hình thức giải quyết phổ biến.
Thứ tư, tranh chấp thương mại có thể dẫn đến chấm dứt mối quan hệ giữa các bên (đôi khi mục tiêu của tranh chấp là để chấm dứt quan hệ). Trong khi với tranh chấp kết nối Viễn thông, quan hệ giữa các bên vẫn tiếp tục được duy trì, trong nhiều trường hợp, việc giải quyết tranh chấp mới chỉ là điểm bắt đầu của một giai đoạn quan hệ mới.
Thứ năm, trong đa số trường hợp, tranh chấp thương mại chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của các bên tham gia, nhưng trong tranh chấp kết nối Viễn thông còn ảnh hưởng tới quyền lợi của nhà nước và người tiêu dùng.
3 CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG CỦA MẠNG DI ĐỘNGGiới thiệu sản phẩm của nhóm: như đã giới thiệu như trên tại phần I, thị trường mạng di động rộng khắp với các doanh nghiệp cung cấp, và nhiều dịch vụ cung ứng. Nhưng nhóm giới hạn ở sản phẩm gói cước dành cho thuê bao trả trước với hai nhà cung cấp tiêu biểu là Mobifone, và Viettel.
3.1 Số lượng người mua và người bánTrên thị trường hiện có 11 DN được phép thiết lập hạ tầng mạng viễn thông, 8 DN cung cấp dịch vụ viễn thông di động, trong đó có 4 DN hoặc liên kết DN cung cấp dịch vụ 3G. 81 DN cung cấp dịch vụ Internet
Chất lượng và tính ổn định của mạng di động ở Việt Nam còn kém vì hơn 90% số thuê bao là thuê bao trả trước và thậm chí các hợp đồng giữa thuê bao và nhà mạng phần lớn không có kỳ hạn dài.
Chính vì thế đã dẫn đến một số lượng rất lớn các thẻ SIM không hoạt động mà vẫn còn tính vào số lượng thuê bao. Do vậy, khó có thể xác định chính xác số lượng thuê bao thực sự.
Hơn nữa, do sự cạnh tranh về giá, như qua các chiến dịch khuyến mãi giá mạnh cho các thuê bao mới, khiến một lượng lớn các thuê bao không hoạt động. Chính phủ cần hạn chế các chiến dịch khuyến mãi quá mạnh, hạn chế số lượng SIM, đăng ký thuê bao, nếu không sẽ gây thiệt hại nặng nề cho các bên tham gia trong ngành và gây nguy hiểm cho toàn ngành viễn thông. (Đánh giá của EuroCham - Phòng Công nghiệp thương mại Châu Âu tại Việt Nam tính tới thời điểm này, Việt Nam đã có 89,5 triệu thuê bao điện thoại (bao gồm cả cố định và di động), đạt mật độ 105 máy/100 dân – có nghĩa là 100% người dân Việt Nam đã có điện thoại.
Hiện ở Việt Nam đang có 7 mạng di động: VinaPhone, MobiFone, Viettel, S-Fone, EVN Telecom, HT Mobile (nay là Vietnammobile), và Gtel. Riêng với trường hợp VTC, Thủ tướng chính phủ vừa đồng ý trên nguyên tắc để công ty này thử nghiệm cung cấp dịch vụ thông tin di động không cần cấp tần số. Khi dịch vụ của VTC đi vào hoạt động, Việt Nam sẽ có tổng hợp 8 mạng di động. Còn về mạng cố định, hiện nay đang có 6 doanh nghiệp tham gia, bao gồm: VNPT, Viettel, EVN Telecom, Saigon Postel, VTC và FPT.
Hiện Viettel đang là nhà mạng có vùng phủ lớn nhất với hơn 22.000 trạm phát sóng 2G và hơn 8.000 trạm phát sóng 3G, dung lượng mạng lưới lớn đủ phục vụ cho hơn 80 triệu khách hàng.
Ngoài lợi thế về hạ tầng Viettel cũng là nhà mạng có số lượng người sử dụng đông đảo nhất lên tới gần 50 triệu thuê bao di động, thuê bao cố định, Homephone. Số lượng thuê bao nội mạng lớn giúp tỷ trọng cuộc gọi nội mạng của Viettel tăng cao.
Tất cả những ưu thế này tạo cho Viettel có một lợi thế cạnh tranh mạnh trên thị trường viễn thông Việt Nam. Điều này cũng chứng tỏ nỗ lực đem đến cho khách hàng dịch vụ tốt nhất với mức giá cả ưu đãi nhất.
Cạnh tranh bằng giá cước rẻ là cách làm quen thuộc của Viettel kể từ khi nhà mạng này xuất hiện trên thị trường viễn thông. Tâm lý “Viettel có nghĩa là giá cước rẻ” dường như đã trở thành một nhận thức được mặc định với người tiêu dùng và đây cũng là sức mạnh đã đưa nhà mạng này trở thành “đại gia” di động.
Như vậy, với những điều trên cho thấy số lượng nhà cung cấp trên thị trường là không nhiều so với số lượng khách hàng. Không những thế các nhà cung cấp dịch vụ nên chú trọng đến chất lượng, và mang thông tin tốt nhất cho khách hàng
3.2 Ai là người quyết định giá trên thị trường?Yếu tố quyết định xem ai là người quyết định giá sản phẩm thể hiện qua việc tự do cạnh tranh giá giữa các Doanh nghiệp (DN), chính điều này cho thấy việc giá của gói cước trả trước là do các nhà cung cấp quyết định.
Cạnh tranh về giá là yếu tố thứ hai đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ. Để mở rộng thị phần và thu hút KH mới, các DN đã thực hiện những chiến dịch khuyến mãi lớn. Kết quả số lượng thuê bao tăng lên rất nhanh, nhưng xuất hiện lượng thuê bao ảo đã làm cho mức độ biến động của thị trường ĐTDĐ rất lớn. Các DN gặp nhiều khó khăn trong việc quản lý thuê bao, chi phí duy trì các số ảo, sử dụng kho số không hiệu quả và nhất là khi muốn đánh giá tiềm năng thực sự của thị trường để có chiến lược phát triển lâu dài.
Việc giảm cước đã tạo một áp lực lên DN, trong khi DN cần nhanh chóng cải tiến mô hình kinh doanh, đảm bảo việc thu hồi vốn và tái đầu tư. Việc giảm giá cũng trở thành rào cản đối với các DN khác khi có ý định gia nhập thị trường viễn thông, ít nhiều dẫn đến tình trạng độc quyền trong thị trường viễn thông.
Ví dụ về mệnh giá nạp tiền của Mobifone dành cho thuê bao trả trước:
Mệnh giá nạp tiền
(đã bao gồm VAT)
Thời gian sử dụng
(ngày)
Thời hạn chờ nạp tiền
(ngày)
5.000 VND
1
10
10.000 VND
2
10
20.000 VND
4
10
30.000 VND
7
10
50.000 VND
12
10
100.000 VND
30
10
200.000 VND
70
10
300.000 VND
115
10
500.000 VND
215
10
3.3 Sản phẩm là đồng nhất hay khác biệt?Hiện nay, các mạng di động lớn ở Việt Nam đều có định hướng cạnh tranh về chất lượng dịch vụ, uy tín kinh doanh sau một thời gian cạnh tranh khốc liệt về giá trong các năm từ 2007-2009. Ở thời điểm đó, hạ giá dịch vụ thông qua khuyến mãi và giảm giá mặc dù là hành vi cạnh tranh không lành mạnh, nhưng đã tạo ra sự tăng trưởng mạnh mẽ, nhanh chóng trên thị trường di động. 3 "đại gia" của lĩnh vực này là: Mobifone, Vinaphone và Viettel chiếm khoảng 90,3% thị phần trong năm 2009 có lợi thế về vốn, kinh nghiệm, cơ sở hạ tầng tốt nhất hiện nay là rào cản rất khó để doanh nghiệp khác vượt qua, kể cả khi cạnh tranh về giá cả và chất lượng.
Nhìn chung, sản phẩm viễn thông nói chung và gói cước di động từ các doanh nghiệp có tính đồng nhất, do có những hoạt động cạnh tranh tương đối giống nhau do có quan điểm theo xu hướng chủ yếu như sau:
- Xác định ngành kinh doanh giống nhau , cố gắng vươn lên làm người dẫn đầu.
- Xác định phạm vi của sản phẩm dịch vụ giống nhau.
- Tập trung vào đối tượng là người sử dụng.
- Tập trung xây dựng chiến lược thường gắn kết vào những mối đe doạ cạnh tranh trong hiện tại và cùng thời điểm.
Tuy nhiên những hình thức bắt chước đối thủ hoặc đưa ra những sản phẩm tốt hơn một chút, giá rẻ hơn một chút sẽ không có hiệu quả. Các DN cần đánh giá lại tình hình ngành, xác lập lại những yếu tố cạnh tranh và có những cái nhìn vượt qua ranh giới hiện tại để mở ra những cơ hội mới. Sẽ không còn có chuyện một doanh nghiệp nào đó dễ dàng dẫn dắt thị trường theo hướng mình như thời gian qua. Mỗi doanh nghiệp sẽ chỉ dẫn dắt được một phân khúc người dùng nhất định. Thị trường sẽ trở nên đa chiều hơn và người sử dụng cũng đã đủ tỉnh táo để lựa chọn cho mình nhà mạng tốt nhất chứ không chỉ đơn thuần là chọn nhà mạng rẻ nhất như trước nữa. Nhưng dù gì đi nữa thì một điều chắc chắn là mạng nào thực sự hướng đến nhu cầu và lợi ích của người dùng thì mạng đó sẽ được người dùng ủng hộ.
3.4 Mức độ quảng cáo3.4.1 Trên internetMỗi mạng điện thoại di động đều có một website riêng biệt , trên mỗi website đều cập nhật thông tin về chính mạng điện thoại đó và các dịch vụ tiện ích , ví dụ như : thông tin về các gói cước , hoà mạng 3G , nhạc chờ , kết nối GPRS , thông tin khuyến mãi và các sản phẩm của mạng .
Nhìn chung , hình thức quảng cáo trên internet rất phố biến và rộng rãi , ngoài ra quảng cáo bằng hình thức này sẽ được nhiều người biết đến qua đó mỗi website của mỗi mạng điện thoại cũng được xem là một trong những dịch vụ chăm sóc khách hàng đặc biệt, nhanh chóng và tiện lợi.
Ngoài ra , đây là thời đại của thương mại điện tử , vì vậy hình thức quảng cáo qua mạng mang tính cạnh tranh cao ,và có hiệu quả hơn so với việc quảng cáo qua báo chí và trên tivi .
3.4.2 Trên báo chíNếu trước đây mạng internet chưa được phổ biến thì báo chí được xem là phương pháp quảng cáo hữu hiệu , tuy nhiên ngày nay mạng interner đã phổ biến , nên việc chọn quảng cáo trên báo chí không còn được ưu chuộng như trước nữa , phạm vi và mức độ quảng cáo thông qua báo chí cũng bị thu hẹp lại . Ngoài ra , còn do một số nguyên nhân sau :
Các tờ báo thường chỉ đọc một lần và lưu lại trong nhà trong 1 ngày
Diện tích một trang báo khá lớn và do đó những nội dụng quảng cáo khá nhỏ trông lại càng nhỏ hơn.
Bạn không biết chắc tất cả những người mua báo đều đọc nội dung quảng cao của bạn.
Quảng cáo của bạn phải cạnh tranh với nội dụng quảng cáo khác để cạnh tranh sự thu hút của đọc giả
Tất cả những nguyên nhân trên làm cho việc quảng cáo trên báo chí bị thu hẹp , chính vì vậy việc quảng cáo mạng điện thoại thông qua báo chí cũng bị thu hẹp về phạm vi và mức độ , không được các doanh nghiệp ưa chuộng nhiều về loại hình quảng cáo này.
3.4.3 Trên tiviĐại đa số các mạng điện thoại đều được quảng cao trên tivi , với những nét đặc trưng riêng biệt , âm thanh hình ảnh sống động , cùng với những câu slogan nhằm khắc sau vào tâm trí của người xem .
3.5 Khả năng gia nhập thị trường - khó và cạnh tranh caoNhìn một cách tổng quát, người tiêu dùng lựa chọn mạng di động trả trước chủ yếu dựa vào 2 yếu tố chính yếu: chất lượng sóng và giá cước cũng như các chính sách khuyến mãi.
Sự phụ thuộc vào hạ tầng mạng (chất lượng song): do các doanh nghiệp đầu ngành (Mobiphone, Vinaphone, Viettel) đã phát triển từ rất sớm, hệ thống hạ tầng mạng rất vững manh và rông khắp, các nhà mạng gia nhập sau này phải rất khó khăn và phải có tiềm lực kinh tế vững mạnh mới có thể cạnh tranh với 3 nhà mạng đầu ngành về chất lượng dịch vụ mạng.
Sự cạnh tranh về các mức giá ưu đãi và các chính sách khuyến mãi: các nhà mạng lien tục thi nhau tung ra các gói cước, các chương trình khuyến mãi cực hấp dẫn để “lấy lòng” khách hàng và dĩ nhiên nhà mạng nào tiềm lực kinh tế mạnh mới có thể chống chọi được với xu hướng này. Các chính sách này có hiệu quả mạnh hơn ở phân khúc điện thoại di động cơ bản, do người tiêu dùng sẵn sàng hi sinh nhiều hơn đòi hỏi về chất lượng sóng cho tính kinh tế.
Trên phân khúc cấu hình trung bình và cao, các nhà mạng vẫn tiếp tục có thể dùng chính sách cạnh tranh qua giá cước thấp, kết hợp với việc nâng cao hạ tầng phát sóng để thu hút thêm lượng thuê bao. Tuy vậy, sự gia tăng thị phần của nó đã chậm lại. Bên cạnh chính sách cạnh tranh qua giá cước ấy, các nhà mạng cần phải chuyển nhiều hơn sang việc khai thác dịch vụ giá trị gia tăng để mở rộng thị phần 1 cách ý ngĩa hơn.
Dẫn chứng
Hiện nay, có 7 nhà khai thác thị trường di động Việt Nam có hàng chục các gói cước khác nhau. Các hãng này liên tục đưa ra các chiêu khuyến mại, cạnh tranh nhau để thu hút khách hàng. Kiểu cạnh tranh chiếm lĩnh thị phần khá quyết liệt và chẳng ngại .dẫm đạp lên nhau
Thời gian trước các hãng Viettel, VinaPhone và MobiFone đều đã tuyên bố hướng mạng di động của mình về vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa. 3 mạng này đều có những gói cước linh hoạt để người nghèo ở thành thị, hoặc nông dân có thể dễ dàng sử dụng, chi phí hàng tháng thấp. Cùng với di động các đại gia đã tung ra các sản phẩm hấp dẫn giá cước thấp như HomePhone, Gphone và E -com.
Chỉ trong tháng 8.2009, Vinaphone đã có sáu ngày, được chia thành hai đợt cho những thuê bao trả trước khi nạp thêm tiền được tặng 100% mệnh giá thẻ cào. Nhưng chưa bằng Viettel khi tặng 130% cho thẻ cào tiếp theo hoặc 200% cho những thuê bao bị khoá hai chiều khi nạp thêm thẻ mới. Mobifone cũng không vừa khi tặng thêm 114 – 190% tuỳ theo mệnh giá thẻ cào: mệnh giá cao được tặng ít hơn mệnh giá thấp.
Các nhà mạng cũng đang đua nhau mở thêm những gói cước mới với nhiều ưu đãi hơn. Như gói Myzone của Vinaphone đã được mở rộng ra 62 tỉnh (trừ Hà Nội) để gia tăng cuộc gọi nội mạng nhưng thực chất là gia tăng số lượng thuê bao vì giá cước rẻ: 900đ/phút dành cho những cuộc gọi nội mạng.
Beeline đang làm các nhà mạng khác choáng vì gói cước Biz “Zero” dành cho cuộc gọi nội mạng: chỉ tính cước phút đầu tiên, còn miễn phí 19 phút còn lại cho giới hạn của một cuộc gọi.
Mobifone vừa có hai gói cước dành cho thuê bao trả trước Q-Teen và Q-Student được nhiều ưu đãi như giảm cước nhắn tin, cước cuộc gọi nội mạng và ngoại mạng, 3.000đ/ngày nhắn tin không hạn chế
Trong hai năm trở lại đây, các nhà mạng còn có những gói sản phẩm “máy kèm SIM”, nghĩa là khi mua máy sẽ được tặng SIM và tài khoản. Hiện nay có hai cách làm, hoặc là nhà cung cấp thiết bị và nhà mạng liên kết với nhau hoặc là nhà mạng kinh doanh trọn gói. Trên thực tế, cách làm thứ hai đang trở nên phổ biến. Cụ thể, S-fone có gói Eco. Vinaphone có gói Alo. Viettel có gói SumoSIM.
Các nhà mạng không công bố số lượng những gói trên nhưng đó cũng là cách thu hút thêm thuê bao trả trước vì giá máy và tài khoản được hưởng thấp hơn giá máy ở ngoài thị trường. Giá hấp dẫn nhất hiện nay là gói cước Eco 999 của S-fone với giá trọn bộ là 270.000đ, được tặng 3 triệu đồng cước gọi nội mạng trong ba năm (83.333đ/tháng).
3.6 Cấu trúc thị trường - độc quyền nhómVề cơ sở lý thuyết: thị trường độc quyền nhóm bao gồm các yếu tố:
ü Một số lượng nhỏ các công ty
ü Sản phẩm vừa được tiêu chuẩn hoá vừa có sự khác biệt
ü Thừa nhận tồn tại sự phụ thuộc lẫn nhau, sản phẩm có thể thay thế cho nhau
ü Khó khăn gia nhập
Hiện tại, có thể nói, thị trường viễn thông di động Việt Nam thuộc 3 nhà khai thác lớn, nắm vai trò dẫn dắt thị trường là Viettel, VinaPhone và MobiFone. Họ cùng nhau thực hiện các biện pháp như giảm giá cước, khuyến mãi nhằm mục đích tranh giành thị phần lẫn nhau và thỏa hiệp ngăn chặn bước tiến của các nhà mạng nhỏ, khiến cho các nhà mạng nhỏ như S-Fone, VN mobile, EVN Telecom, Gtel gặp khó khăn về tài chính, không còn giữ được vai trò dẫn dắt như khi mới bắt đầu bước chân vào thị trường và khó đủ sức để chạy theo cuộc chơi của 3 nhà mạng lớn. Vì lý do đó, các nhà mạng nhỏ chỉ tập trung vào những điểm mạnh và đối tượng khách hàng riêng của mình mà đứng ngoài cuộc chạy đua khuyến mãi của các đại gia. Trên thị trường di động, thời gian gần đây, việc quảng cáo, tung các chương trình khuyến mại của các mạng nhỏ không còn được rầm rộ như trước. Hiện họ vẫn còn đất để phát triển, nhưng nguy cơ bước đến chân tường có thể xảy ra trong vòng 2-3 năm nữa.
Do có ít các công ty trong một ngành độc quyền thiểu số, sản lượng của mỗi công ty chiếm một thị phần lớn trên thị trường. Do điều này, quyết định giá cả và sản lượng của mỗi công ty có tác động đáng kể lên lợi nhuận của các công ty khác. Thêm vào đó, khi ra quyết định liên quan tới giá cả hoặc sản lượng, mỗi công ty phải tính tới phản ứng của các công ty đối thủ.
ü Các công ty tiềm năng khó hoặc không thể gia nhập ngành vì có những rào chắn lối vào như: độc quyền về bằng sáng chế hay quy trình công nghệ, ưu thế về quy mô lớn, hay uy tín tiếng tăm hiện có, Ngoài ra các công ty lớn có thể tiến hành những chiến lược để ngăn chặn những công ty mới đi vào thị trường bằng cách xây dựng khả năng sản xuất còn thừa, dọa sẽ bán phá giá và làm tràn ngập thị trường sản phẩm.
ü Có thể phân các công ty độc quyền nhóm thành 2 loại vì các nhà cung cấp đóng vai trò vừa hợp tác vừa cạnh tranh:
Các công ty độc quyền nhóm hợp tác với nhau: Khi các công ty có thể thương lượng với nhau và có những hợp đồng rang buộc để đưa ra những chiến lược chung.
Các công ty độc quyền nhóm không hợp tác với nhau: Khi các công ty không liên lạc, không thương lượng với nhau, không có những hợp đồng ràng buộc mà cạnh tranh với nhau.
4 SẢN PHẨM CÓ CẤU TRÚC TƯƠNG TỰ4.1 Khái quát thị trường InternetDù dịch vụ Internet chính thức khai trương vào cuối năm 1997 nhưng từ đầu năm 1996, hạ tầng mạng Internet đã được xây dựng. Ban đầu, hạ tầng Internet Việt Nam chỉ là một hệ thống thiết bị nhỏ, được một đối tác của Tổng công ty Bưu chính-Viễn thông Việt Nam (VNPT) lúc bấy giờ (nay là Tập đoàn Bưu chính-Viễn thông Việt Nam) “tặng” thêm một dự án tổng đài dữ liệu.
Hạ tầng ban đầu ấy có tốc độ 64Kbps khi kết nối quốc tế, dung lượng chỉ đủ cho khoảng 300 người sử dụng. Khách hàng đầu tiên là những cán bộ cao cấp của các cơ quan ban ngành, sử dụng với mục đích là giới thiệu với các cấp lãnh đạo cao hơn để vận động “mở cửa” cho Internet.
Lúc đó, chỉ có một DN cung cấp hệ thống đường trục kết nối trong nước và quốc tế (IXP) là VNPT cùng bốn nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP) là VNPT, FPT, SPT và Netnam được phép kinh doanh dịch vụ này.
Năm 2002, để tạo động lực cạnh tranh, nhà nước không còn cho phép VNPT độc quyền khai thác hạ tầng kỹ thuật và cho phép thành lập các IXP khác. Quy định này đã làm thị trường Internet Việt Nam có sự đột phá mới. Giá cước ngày càng rẻ. Thủ tục ngày càng đơn giản. Từ một nhà IXP và bốn ISP thuở ban đầu, đến lúc đó, số lượng nhà kinh doanh dịch vụ Internet đang hoạt động thực tế trên thị trường gồm có bốn IXP và tám ISP. “Thời sơ khai” của Internet Việt Nam chỉ có các dịch vụ cơ bản: thư điện tử, truy cập cơ sở dữ liệu, truyền dữ liệu, truy nhập từ xa. Thì nay, các loại hình dịch vụ đã rất đa dạng và phong phú.
Năm 2003, với các quyết định cho giảm cước truy cập sử dụng Internet ngang với các quốc gia trong khu vực, thậm chí có khung cước còn rẻ hơn, đồng thời cho phép các DN tự mình áp dụng các chính sách quản lý và ấn định mức cước, số khách hàng thuê bao của các ISP tăng đột biến. VNPT tăng 258%, SPT - 255%, NetNam - 227%, Viettel - 184% và FPT - 174%. Tuy nhiên, đến nay chất lượng dịch vụ vẫn còn là nỗi khổ của khách hàng lẫn nhà cung cấp. Vấn đề chất lượng chỉ được “cải thiện” bằng thiện chí chăm sóc khách hàng của các ISP chứ chưa có một cuộc thay đổi toàn diện, mà điều dễ thấy nhất là ở tốc độ truy cập.
4.2 Phân tích cấu trúc thị trường InternetĐến nay, sau mười năm hoạt động, Internet Việt Nam đã có 16 ISP. Nhưng theo các cơ quan chức năng, chỉ có tám ISP thực sự có hàng hóa cung cấp cho thị trường, đó là VNPT, SPT, FPT, Viettel, EVN, Netnam . Để thu hút khách hàng, ngoài việc mở rộng địa bàn “phủ sóng”, các nhà cung cấp đã đưa ra nhiều dịch vụ mới như danh bạ, luyện thi trực tuyến, thông báo điểm tuyển sinh, diễn đàn trên mạng, truyền hình theo yêu cầu (Video on Demand - VOD), mở rộng hình thức kết nối không dây bằng việc tặng các hotspot cho các điểm du lịch, nhà hàng, khách sạn, trường học . như mô hình “thành phố Wi-Fi” do FPT Telecom xây dựng tại TP.HCM và Hà Nội. Tuy nhiên, theo đánh giá của Thứ trưởng Bộ Thông tin-Truyền thông Lê Nam Thắng, độ phủ và sự phong phú của các dịch vụ giá trị gia tăng của các ISP hiện nay chỉ dựa vào hệ thống mạng điện thoại công cộng là chính, còn các phương thức khác như mạng cáp quang, vệ tinh VSAT IP . tuy có nhưng chưa phổ biến.
Các ISP còn lại đang hoạt động yếu ớt hoặc chưa làm gì như Công ty Sản xuất-Kinh doanh-Xuất nhập khẩu Điện tử quận 10 (TIE), Công ty cổ phần Dịch vụ Một kết nối (OCI), Công ty Thông tin Điện tử Hàng hải, Công ty Điện tử Tin học Hóa chất (Elinco), Công ty Thanh Tâm Hầu hết các OSP cung cấp dịch vụ ứng dụng trên mạng đều là các ISP, đây cũng là điều dễ hiểu khi ta nhìn vào mục đích kinh doanh và thế mạnh của các ISP.
Đơn vị
Tổng số thuê bao quy đổỉ
Thị phần
(%)
Công ty cổ phần viễn thông Hà Nội (HPT)
643
0,01
Tổng công ty Viễn thông Quân đội (VIETTEL)
810638
16,49
Công ty cổ phần dịch vụ Một kết nối (OCI)
130309
2,65
Công ty cổ phần dịch vụ BC-VT Sài Gòn (SPT)
203540
4,14
Công ty NETNAM - Viện CNTT (NETNAM)
78345
1,59
Công ty cổ phần phát triển đầu tư công nghệ (FPT)
910791
18,53
Tập đoàn Bưu Chính Viễn Thông Việt Nam (VNPT)
2532108
51.52
Công ty SAXKD XNK điện tử Q.10 (TIE)
1035
0,02
Công ty Thông tin Viễn thông Điện lực (EVN)
247057
5,02
Tóm lại, thị trường internet có cấu trúc tương tự thị trường mạng di động. Đây là những thị trường có cấu trúc thị trường độc quyền nhóm với số lượng nhà cung cấp quá ít so với nhu cầu của khách hàng, cùng với chất lượng sản phẩm chưa cao. Và giá của các nhà cung cấp tác động lẫn nhau, dựa trên các khuyến mãi là chính. Trong đó, thị phần của VNPT chiếm trên 50%. Thị trường dù ít nhà cung cấp tuy nhiên khả năng gia nhập thị trường là không cao và gặp nhiều khó khan. Vì sản phẩm nhìn chung là đồng nhất, chỉ tạo sự khác biệt ở khâu khuyến mãi. Thêm vào đó có những nhà cung cấp chiếm thị phần khá lớn rất khó cạnh tranh; và giữa các nhà cung cấp có sự cạnh tranh và hợp tác lẫn nhau. Các nhà cung cấp lâu năm thường hợp tác cùng nhau đễ đẩy các doanh nghiệp nhỏ ra để chiếm thị phần, và họ vừa cạnh tranh nhau về khuyến mãi, về chất lượng phục vụ, về đa dạng sản phẩm để mục tiêu là giành nhiều thị phần càng tốt. Thị trường Internet và mạng di động là hai sản phẩm có cấu trúc đặc trưng cho ngành viễn thông hiện nay tại Việt Nam.
5 KẾT LUẬNQua quá trình thực hiện đề án, nhóm đã hoàn thành tương đối tốt các mục tiêu đã đề ra. Tuy bước đầu còn gặp nhiều khó khăn, nhưng nhờ tinh thần ham học hỏi nhóm đã đạt được những mục tiêu sau:
Ø Học hỏi được kỹ năng nghiên cứu và phân tích một thị trường.
Ø Ngoài ra, nhóm còn nâng cao được khả năng tìm kiếm và chắt lọc thông tin, khả năng làm việc nhóm một cách logic.
Tóm lại, do hạn chế về mặt kinh nghiệm thực tế nên nhóm chưa hoàn thành đề án này một cách hoàn hảo nhất. Vì vậy nhóm rất mong sự góp ý, đánh giá sâu sắc của Cô để nhóm nhìn thấy được những sai xót cũng nhưng những mặt hạn chế. Từ đó nhóm có thể rút ra được những kinh nghiệm, đồng thời củng cố lại kiến thức để thực hiện tốt hơn các bài báo cáo sau này.
TÀI LIỆU THAM KHẢOwww.mobifone.com.vn
www.rockstorm.vn/web/vn/promotion
www.vnpt.com.vn
www.vietteltelecom.vn
www.dientuvienthong.net